Sound&Lightingvn Documents

Hoàn thiện hơn nghệ thuật nghe nhìn...

  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size

Cẩm nang cho kỹ thuật viên ánh sáng trường quay & Chương 05

Article Index
Cẩm nang cho kỹ thuật viên ánh sáng trường quay & Chương 05
Phần 02
All Pages

 

 

 

Chương 05

Mục tiêu và phương pháp chiếu sáng

Lighting objectives and methods

 

Trong thời điểm này, chúng ta hãy đặt vật dụng ra ngoài và thảo luận những câu hỏi lớn hơn về chúng ta muốn đạt cái gì với ánh sáng và cách tiến đến ra sao. Cân nhắc những cái đạo diễn hình ảnh (DP) trưởng kỹ thuật (gaffer) đánh giá khi đưa ra quyết định ánh sáng? Để bắt đầu thảo luận này, đầu tiên chúng ta sẽ xem xét mục tiêu của ánh sáng lớn hơn. Với những mục tiêu này trong đầu, chúng ta sẽ nhìn vào chiến lược ánh sáng, cách chúng ta tiến đến hướng, màu và chất lượng của ánh sáng cho một scene nhất định, và cách chiếu sáng khuôn mặt diễn viên ra sao. Thực hiện chiến lược ánh sáng, chúng ta cũng sẽ cần phải hiểu những nhiệm vụ kỹ thuật gắn liền với làm việc trong phương tiện quay phim, kể cả việc làm và giải thích đồng hồ đo ánh sáng, xử dụng và điều khiển độ tương phản (contrast) và xem xét nhiều yếu tố khác nhau có ảnh hưởng đến mức độ ánh sáng làm việc cho cảnh (scence).

___________________________________________________________________________________

MỤC TIÊU

Chúng ta nghĩ sao khi phải đối mặt với một khuôn mặt không có ánh sáng, trước khi lựa chọn và đặt, sẽ xử dụng đèn đặc biệt không? Mất một chút thời gian để xem xét những mục tiêu chiếu sáng tổng thể. Những textbooks cổ điển của thiết kế ánh sáng sân khấu mô tả bốn mục tiêu chiếu sáng: tầm nhìn, tự nhiên, thành phần, và tâm trạng. Mặc dù việc thực hiện những khái niệm này có khác nhau đôi chút khi chúng ta chiếu sáng cận cảnh khuôn mặt của diễn viên hơn khi chiếu sáng một sân khấu, những mục tiêu tương tự áp dụng cho công việc của chúng ta trong ánh sáng phim và truyền hình. Những mục tiêu lớn là cơ sở cho quyết định ánh sáng, chúng ta xem xét vấn đề và kỹ thuật cụ thể sau trong chương này.

Tầm nhìn Visibility (hay khả năng nhìn chọn lọc)

Một bộ phim không có âm thanh là một bộ phim câm. Một bộ phim không có ánh sáng chỉ cái radio. Rõ ràng, bạn phải có ánh sáng để lộ ra bộ phim. Độ lộ sáng và tương phản (exposure and contrast) là hai yếu tố quan trọng của khả năng nhìn thấy có chọn lọc trong điện ảnh. Phần lớn nghệ thuật điện ảnh nằm trong sự kiểm soát ánh sáng và bóng tối trong suốt bề rộng (latitude) của bộ phim, chọn độ lộ sáng cho đối tượng và nhân vật xuất hiện tươi sáng và rực rỡ, hơi mờ, mờ đậm, hầu như không thể nhìn thấy, hay biến mất hoàn toàn trong bóng tối, theo ý muốn. Quan trọng không kém là hướng chiếu sáng. Chúng ta sẽ xử dụng góc chiếu nào để lộ ra khuôn mặt? Chúng ta muốn khuôn mặt lộ ra bao nhiêu? Chúng ta sẽ nói rất nhiều về độ lộ và góc độ chiếu sáng sau trong chương này.

Tính tự nhiên (Naturalism)

Ánh sáng giúp dựng scene, nó định vị scene đúng thời gian và không gian. Chất lượng và hướng của ánh sáng và nguồn ngụ ý là một phần của những cái làm cho scene có sức thuyết phục. Thường vô thức, chúng ta nhận ra ánh sáng miêu tả thời gian, mùa, địa điểm, và tình hình thời tiết. Ánh sáng là gợi ý của cách cảm thấy không khí và có mùi, cho dù đó là bụi bặm hay sạch, mù hay , lạnh hay nóng, ẩm hay khô. Khi chiếu sáng scene, DP cố gợi ra nhiều về địa điểm và thời gian để ai đó có thể tưởng tượng ra. Đội kỹ thuật sẽ không nhất thiết phải quay scene vào thời điểm ghi trong kịch bản. Kịch bản scene nội thất như "mặt trời mọc" có thể quay bất cứ lúc nào, ngày hay đêm. Để tạo ra ánh sáng trông tự nhiên và giữ cho mọi cái phù hợp, người ta phải kiểm soát những nguồn ánh sáng hiện hữu và xử dụng hay phát minh ra kỹ thuật để tái tạo thật tế ra ánh sáng tự nhiên nhưng xử dụng nguồn nhân tạo.

Trái ngược với ánh sáng tự nhiên là ánh sáng làm ra thiết lập nhân tạo cho khán giả: khi camera thu lại nhiều bóng đổ của một diễn viên trên tường và sàn, khi người ta có thể theo dõi những tia phân kỳ của ánh sáng dội lại với đèn bên ngoài cửa sổ, khi shot cho thấy "ánh sáng mặt trời trực tiếp" đi vào phòng từ hai hướng ngược nhau hay ở góc độ khác nhau tại mỗi cửa sổ.

Thành phần (Composition)

Ánh sáng dùng như một phương tiện để nhấn mạnh và mô tả. Nó giúp phân tách những lớp của thế giới ba chiều trên màn hình hai chiều phẳng. Nó cũng có thể tạo những hiệu ứng đồ họa đơn thuần, góp phần vào việc thiết kế thành phần.

Nhấn mạnh (Emphasis)

DP chọn lọc nhấn mạnh tính cách nhân vật hay yếu tố, cho phép chiếu sáng trực tiếp vào mắt trong khung hình (frame). Thí dụ, hãy tưởng tượng một shot rộng nhìn xuống trên cộng đồng trong một nhà thờ lớn. Shot ngay lập tức sẽ truyền tải sự hùng vĩ của buổi lễ, nhưng không có lại càng giúp hơn nữa, mắt của chúng ta đi lang thang mà không tập trung. Làm tăng mức độ ánh sáng chung quanh những nhân vật phía trước nhà thờ thu hút mắt cho tiêu điểm của chúng ta về scene, những cặp vợ chồng thực hiện lời thề của họ tại bàn thờ. Ánh sáng rơi trên những nhân vật ngoại vi.

Tách biệt (Separation)

Khi cô đọng thế giới ba chiều vào mẩu phim celluloid và chiếu lên màn hình phẳng, khả năng nhìn chiều nổi tự nhiên của chúng ta phát hiện ra bị mất chiều sâu (trừ khi bộ phim là 3D). Cameraman có thể nhấn mạnh lại chiều sâu hình ảnh bằng cách làm nổi bật những đường nét của nhân vật và đối tượng, bằng cách đối chiếu độ sáng và màu nhiều lớp khác nhau, và bằng cách di chuyển camera, cho thấy chiều sâu với chuyển động tương đối của mặt phẳng khác nhau.

Một vấn đề thường gặp là khi tiền và hậu cảnh (foreground and background) chia sẻ chung giá trị, trộn với nhau. Người làm phim có thể chọn cách khắc phục điều này bằng đèn hậu (backlight), tạo ra rìa chung quanh tóc và vai của diễn viên, để tách biệt ta với hậu cảnh (background). Số lượng đèn hậu phụ thuộc vào hệ số phản chiếu của đối tượng và cách làm hiệu ứng rõ rệt đúng ý. Đèn hậu từ lâu đã là qui ước được chấp nhận trong phim và truyền hình, tuy nhiên đèn hậu quyến rũ sáng thật sự cũng có thể xuất hiện thật sự nhân tạo. Có thể thực hiện đèn hậu mạnh để trông tự nhiên nếu nó cũng thúc đẩy tốt. Cửa sổ sáng nền hậu của shot giúp loại tình huống này, nó cung cấp cảm giác của nguồn.

Đèn hậu không phải là cách duy nhất để tạo ra tách biệt. Người làm phim (cinematographer) có thể chọn tách foreground, middle groundbackground, chỉ cần chiếu sáng đến mức tương phản độ sáng. Có thể xếp phần nổi bật ở background sao cho phần tối khuôn mặt của diễn viên đối diện với ánh sáng background. Phần nổi bật không cần hoàn toàn sáng lên background nếu DP muốn duy trì cảm giác bóng tối. Bạn có thể chọn chiếu luồng sáng mặt trời, hay khoảng sáng chung quanh đối tượng, hay là nhát sáng qua vài bức tường nghệ thuật, sao choxếp lên phía sau diễn viên trong thành phần dễ chịu, để lại bóng tương phản chung quanh nó. Bạn cũng có thể xử dụng lượng khói nhẹ trong không khí, sao cho thực thể ánh sáng mờ, để background nằm trong khí quyển mờ phía sau nó.

Chiều sâu (Depth)

Yếu tố về thành phần quan trọng khácchiều sâu. Một thành phần bao gồm bề mặt ở những khoảng cách khác nhau lùi lại vào khoảng cách làm tăng ý nghĩa của cách nhìn và tỷ lệ của shot. Nếu shot bao gồm vài ý thức không gian vượt ra ngoài mặt phẳng của bức tường đối diện, bên ngoài cửa sổ hay qua cánh cửa mở toang vào phòng khác, gaffer có thể tạo ra mặt phẳng ánh sáng và bóng tối lùi sâu vào hình ảnh. Chiều sâu tạo cơ hội tốt cho ánh sáng và thành phần thêm thú vị.

Hiệu ứng đồ họa (Graphic effect)

DP thường muốn ánh sáng chỉ cần tạo ra kiểu dáng đồ họa hay cải tiến đường nét hay bóp méo hình dạng trong khung cảnh. Có thể thực hiện việc này bằng cách chiếu nhát chéo trên background, mô hình di chuyển tán lá, khung cửa sổ, rèm mành, hay bằng cách xử dụng trang phục đối tượng để tạo ra bóng tối không đều.

Chiếu sáng bề mặt kết cấu theo góc xiên nhấn mạnh bố cục của bề mặt đó. Vách tòa nhà kim loại lượn sóng xuất hiện như là mô hình thẳng đứng ; bức tường gạch sẽ trở thành mô hình của hình chữ nhật đều đặn. Chia nhỏ background bằng ánh sáng kết cấu góp phần tạo ra hình ảnh thú vị.

Tâm trạng (Mood)

Tâm trạng có lẽ là sự đóng góp ánh sáng mạnh nhất cho điện ảnh. Phối hợp với người thiết kế và giám đốc chương trình, DP xem xét kịch bản: sự kiện, cảm xúc, và nhân cách sống trong không gian trong câu chuyện. Người đó cảm giác về mỗi scene nên cảm thấy ra sao. Ánh sáng có thể gai góc và siêu thật tế, óng mượt và sạch, công nghệ cao và đặc sắc, hay tươi tốt và quyến rũ. Nó có thể là tự nhiên hay có thể cách điệu, sân khấu hóa. DP thường thấy nó hữu ích để xây dựng ý tưởng về khái niệm đó, có thể thông báo và truyền cảm hứng cho cách tiếp cận của họ đến ánh sáng.

Phát sinh ra nhiều câu hỏi như:

Loại thế giới nào không tồn tại trong câu chuyện? Những loại hình ảnh nào truyền tải giai điệu cơ bản của bộ phim?

Màu và chất lượng ánh sáng nào hỗ trợ trạng thái bên trong cảm xúc của nhân vật, và những nguồn ánh sáng nào có thể giới thiệu trong scene để tạo động lực làm ánh sáng cho diễn viên hay trong phòng không?

Khán giả nên kinh nghiệm tính cách này - rạng rỡ với sức thu hút, bối rối và không hoàn hảo, mạnh và xác định, hay cái gì nữa ra sao?

Điều kiện, thời tiết, thời gian trong ngày là gì? Có phải họ quyết định bằng kịch bản? Nếu không, những giai điệu của scene cách tiếp cận để có không? Ánh sáng không nhất thiết phải theo lời giải thích nghĩa đen tâm trạng của kịch bản. Nó có thể mỉa mai - người cô đơn khốn khổ phải đối mặt với ngày nắng đẹp.

Ánh sáng được xử lý bằng tính cách trong câu chuyện này ra sao? Sẽ mời ánh sáng mặt trời đổ vào phòng như kẹo bơ hay đóng kín nó, để chúng ta lại trong căn phòng tối tăm, ẩm mốc, ánh sáng mặt trời rỉ chung quanh cạnh rèm cửa dày?

Ánh sáng sẽ nối nhân vật chính với môi trường chung quanh hay nó cô lập anh ta? Anh ta có được bao quanh rực sáng khuôn mặt người với người mà anh ta có thể tương tác, hay hình dáng vô danh để anh một mình và xa lánh?

Mạch của câu chuyện đưa chúng ta đến đâu? Làm sao thay đổi vẻ ngoài không gian và cảm nhận từ một phần bộ phim đến phần tiếp theo? Nó là hành trình dài đi vào đêm, xuất hiện từ bóng tối thành ánh sáng, hay là cái gì? Làm sao tăng tiến trình trong mỗi scene?

Khả năng sáng tạo vô tận kết hợp ánh sáng đến câu chuyện. Những ý tưởng mới liên tục từ lời thoại, thiết lập, và vị trí thật sự. Ngay cả đạo cụ, trang phục, và đặc tính của chính diễn viên có thể đóng góp ý tưởng cho ánh sáng. Rất thường trinh sát vị trí, ánh sáng chiếu xuống tự nhiên thích hợp với một scene nào đó, kích thích ý tưởng về cách có thể tái tạo cảm giác ra sao. Một họa sĩ ánh sáng trường quay có thể làm điều gì đó thành thú vị do tình cờ.

Hình dung, tưởng tượng trước mỗi scene, dựa trên khái niệm cốt truyện, kích thích ý tưởng ánh sáng. Nó mang lại nhiều cái cho điện ảnh và tránh hành động công thức. Nó cung cấp cho DP và gafffer tầm nhìn kết dính, dẫn đến thiết kế ánh sáng sáng tạo, hiệu quả và phù hợp. Tất cả quyết định chúng ta đã nói cho đến nay - mức độ có thể nhìn thấy yếu tố scene, chủ nghĩa hiện thực của ánh sáng môi trường, những yếu tố, thành phần cụ thể tổng của tất cả chi tiết này là tâm trạng chung. Tất cả quyết định của DP đều đóng góp cái gì đó cho hình ảnh. Trí tưởng tượng và ý thức của DP sắp xếp mỗi quyết định của câu chuyện với tầm nhìn đạo diễn.

Ràng buộc về thời gian

Mục tiêu sắp xếp thuận tiện cuối cùng đã bị lơ đi cho đến nay đang làm việc trong khung thời gian cho phép bởi tiến độ chương trình. Trong thế giới lý tưởng, DP có thể lập kế hoạch và chú ý đến từng chi tiết, và đội kỹ thuật sẽ có tất cả thời gian cần thiết để treo và tinh chỉnh ánh sáng.

Tuy nhiên, trong đời thật, tốc độ thường trở thành ưu tiên hàng đầu, và ánh sáng phải được thiết kế theo nó. Khi đã lên kế hoạch không còn gì cụ thể hơn, DP luôn dựa vào một trong vài công thức chiếu sáng chung, có thể thiết kế riêng cho từng scene và sẽ thấy tốt. Đôi khi cứ như chúng ta chỉ có đủ thời gian để loại bỏ vấn đề khủng khiếp thật sự, và khi đã làm xong, chúng ta quay (shoot). Đội kỹ thuật ánh sáng dốc hết sức mình cố thoát khỏi đám cháy và lại đâm vào chảo chiên. Tuy nhiên, ngay cả trong những hoàn cảnh tồi tệ nhất, DP và gaffer khao khát có những lựa chọn để giải quyết bốn mục tiêu chiếu sáng khả năng đưa ra: chọn lọc, tự nhiên, thành phần, và tâm trạng để đi đến hình ảnh. hơn chỉ đơn thuần là chấp nhận được, nhưng bằng quay scene gợi cảm, và đôi khi còn nổi bật và đáng nhớ.


____________________________________________________________________________________

Quy trình xây dựng chiến lược chiếu sáng

Sẽ hữu ích khi nghĩ ánh sáng liên quan đến hai nỗ lực, chiếu sáng diễn viên, chú ý đặc biệt đến khuôn mặt của họ, và ánh sáng cảnh quay, do đó có nghĩa là phòng hay không gian và background. Ánh sáng chủ đạo (key) là ánh sáng mạnh nhất trên khuôn mặt của diễn viên, và vị trí của đèn key là một trong những sự quan tâm đầu tiên của DP khi chiếu sáng cho scene. Động lực cho ánh sáng chủ đạo trên diễn viên sẽ bị ảnh hưởng bởi phương pháp tiếp cận đến tổng thể scene, và còn xảy ra bằng ánh sáng của không gian bao phủ diễn viên nữa. Tuy nhiên, quyết định của DP như khuynh hướng chiếu sáng cho diễn viên cũng bị ảnh hưởng mạnh bởi hướng diễn viên đối mặt trong scene, qua đó hướng dẫn họ quay lại góc nhìn, và độ nghiêng đầu. DP và gaffer quan sát những chi tiết chặt chẽ trong thời gian diễn tập, và chọn hướng ánh sáng phục vụ blocking (giới hạn vị trí và di chuyển) và hành vi của diễn viên sẽ thực hiện tốt nhất. Vì vậy, trong nhiều trường hợp, DP bắt đầu bằng cách chiếu sáng khuôn mặt. Đôi khi ánh sáng này cũng sáng cả cảnh quay, nhưng thường thì phải sửa lại ánh sáng này, thí dụ, bỏ bớt tường, để tách những lớp hình ra.

Đôi khi DP sẽ đảo ngược cách tiếp cận bởi ánh sáng không gian chủ yếu, thêm vào đó chỉ khi cần bảo đảm vài điểm lộ sáng trên khuôn mặt diễn viên. Cách tiếp cận này có khuynh hướng làm việc tốt cho những scene quan trọng tự nhiên. Trong trường hợp này, DP nỗ lực ý thức tránh cái nhìn quá lịch sự hay giả tạo, ủng hộ chủ nghĩa hiện thực và can đảm. Đèn chủ đạo (key-light) "lý tưởng" mạnh có thể sáng quá trong scene ít quan trọng. Cách tiếp cận này có thể dẫn đến vài góc độ ánh sáng độc đáo, chẳng hạn như chiếu sáng bằng đèn dội từ bên dưới, hay với đèn đầu. Đến nay DP muốn đưa ý tưởng này phụ thuộc phần lớn vào loại show. Trong vài bộ phim, DP còn khá bảo thủ về cách chiếu sáng diễn viên từ góc độ đó là không tốt, nhưng với những người khác, chủ nghĩa hiện thực và khả năng cảm xúc con ách chủ bài của tất cả ánh sáng.

DP hình thành chiến lược tư duy ánh sáng về hai điều: (1) vị trí camera của shot sắp tới, việc lựa chọn hướng chiếu sáng phục vụ cho shot tốt nhất, và (2) áp dụng tinh thần chiến lược ánh sáng dẫn đến có lẽ tất cả góc quay khác sẽ làm theo. DP muốn chút thời gian để dự trù, tưởng tượng ánh sáng sẽ được điều chỉnh ở góc độ khác ra sao để bảo đảm họ có thể duy trì chiếu sáng liên tục, và không chiếu anh hay ta vào góc. DP cố gắng dự đoán sự sắp xếp ánh sáng chủ yếu cho toàn bộ scene, vì nó có thể ảnh hưởng đến trật tự của shot và vấn đề khác cho hiệu quả. Như bạn thấy, DP đang lưu tâm đến nhiều cái khi bắt đầu sắp xếp ánh sáng.

Một thành phần quan trọng trong quy trình chiến lược chiếu sáng xác định nguồn ánh sáng nào là động lực cho scene. Nguồn động lực này có thể có thật hay chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng của DP và gaffer. Xác định động lực cho ánh sáng mang tính hiện thực cho ánh sáng. Động lực cho ánh sáng trong scene có thể là ánh sáng mặt trời trực tiếp đổ qua cửa sổ, hay ánh sáng mềm của mặt trời phản chiếu khỏi bề mặt. Nó có thể lọc sáng qua ánh sáng bầu trời (skylight), nến trên bàn ăn, đèn bàn, đèn đường, ánh trăng, ngọn đuốc, ánh sáng của bảng điều khiển (trong máy bay, xe hơi, tàu vũ trụ, tàu ngầm), hay ánh sáng neon nhấp nháy bên ngoài cửa sổ của căn hộ đô thị, đèn nhấp nháy của xe cứu thương, đèn pha của cái xe đi qua, hay ánh sáng chập chờn của đống lửa trên bãi biển. Màu sắc và chất lượng của ánh sáng được chế tác thi đua của nguồn ánh sáng động lực và, dĩ nhiên, khi ánh sáng chủ đạo có nguồn đồng nhất, ánh sáng cũng phải bắt nguồn từ nhiều hướng hay ít hơn, mặc dù có thể thực hiện rất nhiều loại phóng túng.

Như đề cập trước đây, hướng ánh sáng chủ đạo chính xác thường được chế tác để nét mặt diễn viên có vẻ tốt nhất về cho vị trí nhất định và camera. Có thể mô phỏng nguồn động lực lớn, như mặt trời, bằng vài đèn lớn đổ vào qua nhiều cửa sổ khác nhau. Mặt khác, nó có thể là vài nguồn khác nhau sẽ thúc đẩy ánh sáng tại nhiều khu vực khác nhau trong trường quay. Thí dụ, khi một nữ diễn viên di chuyển từ cửa sổ đến ghế sofa ở phía trước lò sưởi, cô ta đi khỏi ánh sáng cửa sổ mềm và ấm màu xanh, vào ánh lửa nhấp nháy. Thậm chí sự khác biệt màu sắc tinh tế và chất lượng nguồn ánh sáng làm cho ánh sáng có sức thuyết phục hơn. Thúc đẩy màu nguồn sáng cũng cho DP một cách tách những lớp riêng biệt của foreground, middle ground, và background. Điều này gọi là tách màu (color separation). Một nguồn ánh sáng huỳnh quang có thể hơi xanh, hay hơi lục, ánh sáng cửa sổ có thể hơi hổ phách – amber (ánh sáng mặt trời), hay hơi xanh (ánh sáng bầu trời), và v.v.

Trong hầu hết trường hợp, nếu nhìn thấy nguồn động lực trên camera - chẳng hạn đèn thật tế, hay ánh sáng chiếu xuyên qua rèm cửa sổ, nếu nguồn đủ để chiếu sáng diễn viên, nguồn key sẽ bị quá sáng, có nghĩa, chỉ chiếu ra màu trắng không còn lại kết cấu. Giả sử diễn viên đang ngồi trên ghế bên cạnh đèn bàn. Nếu chúng ta chỉ dựa vào bóng đèn để có điểm sáng tiếp xúc trên khuôn mặt diễn viên, bóng đèn sẽ làm lộ sáng rất nhiều. Ngược lại, nếu chúng ta dim đèn xuống bằng chụp đèn có chi tiết tốt, nó sẽ không chiếu đủ ánh sáng cho khuôn mặt diễn viên. Do đó cần phải chiếu sáng khuôn mặt diễn viên một cách riêng biệt bằng nguồn mềm, tương tự đèn bàn màu vàng. Điều này cũng cho chúng ta một cơ hội để "đánh lừa" ánh sáng chính nơi mà nó sẽ chiếu tốt nhất trên khuôn mặt diễn viên. Điều quan trọng là chất lượng ánh sáng của nguồn chủ đạo đặc biệt, phải là nguồn ánh sáng thật tế và chính đáng. Đèn Fresnel khuếch tán chung quanh mặt trước bóng đèn sẽ phục vụ mục đích này. Bạn phải cẩn thận không để cho ánh sáng tràn vào chính bóng đèn hay để cho bóng đèn tạo ra bóng tối từ Fresnel, vì điều này sẽ phá hủy những ảo ảnh của ánh sáng có nguồn gốc từ bóng đèn.

Trong khi chuẩn bị chương trình, DP, thiết kế chương trình và đạo diễn có thể thảo luận về sự chuyển động của diễn viên liên quan đến vị trí của nguồn sáng. Ánh sáng tự nhiên ảnh hưởng đến hành vi. Thí dụ, đốm nắng mặt trời di chuyển trên sàn phòng khách trong buổi chiều, và con mèo di chuyển mỗi 15 phút để theo kịp nó. Mọi người cũng hướng về phía sáng để đọc, làm việc, và nói chuyện với nhau. Do đó, tự nhiên ánh sáng sẽ đúng chỗ khi blocking vị trí, và vài phạm vi, đạo diễn và thiết kế chương trình sẽ muốn đặt đồ nội thất, cửa sổ và nguồn sáng để tạo điều kiện chiếu sáng hoạt động.

Khi không tồn tại nguồn chính đáng để chiếu sáng diễn viên, như trong phòng ngủ tối trong đêm, phải thực hiện vài ấn tượng nhỏ. Mục đích là tạo ra vẻ ngoài là tâm lý dễ chịu hơn với khán giả, nếu không hoàn toàn hiện thực. Thí dụ, một cách tiếp cận để chiếu sáng một scene đêm gọikhông ánh sáng (unilluminated) là tạo ra ánh sáng màu xanh (nondirectional) ở sàn thấp chỉnh thiếu sáng (underexpose). Sau đó, rất chọn lọc, thêm ánh sáng chip (mảng vỡ) và sliver (mảnh vụn), và có thể xử dụng đèn hậu (backlight) tinh tế để xác định đường viền của diễn viên nơi người đó lẫn vào bóng tối. Sự thành công của hiệu ứng như vậy là vấn đề tế nhị, đòi hỏi phải có mắt và phán xét kinh nghiệm.

Cho một scene nhất định, DP thường lựa chọn nhiều nguồn động lực khác nhau. Họ chọn những cái thực hiện đúng mục tiêu ánh sáng của mình cho scene. Có tính đến việc blocking cụ thể, kiến trúc của trường quay, và vị trí của đèn thật tế trong trường quay, DP sẽ quyết định nguồn nào sẽ làm động lực ánh sáng quan trọng trên khuôn mặt diễn viên, mà nguồn xử dụng để thúc đẩy backlight, nguồn có thể tạo động lực cho ánh sáng trên background, và v.v..

Đèn chủ đạo (keylight): chiếu sáng khuôn mặt diễn viên

Như đã nói, DP thường chọn vị trí keylight chiếu khuôn mặt của diễn viên. Điều này nêu vấn đề: tác dụng của việc lựa chọn vị trí keylight này hay cách khác là gì? DP xử dụng những tiêu chuẩn nào để quyết định cái gì là "tốt nhất". Mặc dù không có quy tắc bất di bất dịch, chúng ta có thể quan sát một số cách ánh sáng tương tác với khuôn mặt con người.

Mảng sáng gò má (cheek patch) Rembrandt

Hình dạng của khuôn mặt lộ ra đến mắt bằng cách chiếu vào đường cong và mặt phẳng của nét mặt. Biến thể tông màu (tonal) - bóng và bóng tối - cho não của chúng ta hình dạng của vật thể. Có thể nhấn mạnh hay làm mờ nét mặt bằng cách bố trí đèn. Thông thường, sách vở dạy vị trí keylight góc 45 độ bên trên và 45 bên cạnh mặt diễn viên (hình 05.01). Vị trí này đưa bóng của mũi qua phía đối diện khuôn mặt, để lại mảng sáng trên má. Mảng sáng này gọi là mảng má Rembrandt, sau khi vẽ chân dung của họa sĩ Hà Lan thế kỷ XVII. Góc chiếu sáng này đặt ánh sáng trên cả hai: mắt lẫn mô hình mũi, môi, cằm, và má rất độc đáo. Nó được coi là vị trí keylight tự nhiên nhất. Tuy nhiên, tất cả diễn viên đều nét mặt khác nhau: người này mũi lớn; người khác có khuôn mặt rộng, cằm nhô ra hay ủ rũ. Vài người có mắt khá sâu, rất khó chiếu ánh sáng vào; lông hay nếp nhăn gây trở ngại cho ánh sáng chúng ta muốn giấu. DP đáp ứng với những sự khác biệt trong việc điều trị cho từng khuôn mặt, quy tắc 45 độ trở thành học thuật.

Thông thường, keylight ở đâu đó giữa 0 và 90 độ, từ vị trí phía trước đến chủ đề và từ 0 đến 45 độ trên đầu đối tượng, tuy nhiên, nó có thể đến từ bất kỳ hướng nào đó cho thấy ít nhất vài nét của khuôn mặt: từ bên dưới, từ trên cao, và thậm chí cả từ vị trí ba phần tư đằng sau hay bên cạnh.

Tất cả mọi cái đều bằng nhau, hình ảnh sẽ dễ chịu hơn khi chiếu sáng bằng keylight bên cạnh xa hơn keylight bên cạnh gần. Đây là khái niệm quan trọng trong việc chọn vị trí keylight. Khi camera phải đối mặt diễn viên trong phạm vi điển hình, diễn viên nhìn vào bên trái hay bên phải camera, do đó họ không trực diện vào camera, nhưng hơi một chút cách này hay cách khác. Nếu một nữ diễn viên phải đối mặt với bên trái camera, cô phô khuôn mặt bên phải của mình cho camera nhiều hơn bên trái. Do đó, bên trái là bên kia và bên phải là bên này. Một keylight xa chiếu phía bên kia khuôn mặt, cho phép vài bóng đổ qua bên gần mặt diễn viên (hình 05.02A). Sự sắp xếp này làm mẫu nét mặt bằng cách phô bày sự tương phản (tạo ra bởi bóng của mũi, môi, mắt, hàm, cằm, v.v.) hướng về phía camera.

Nếu làm ngược lại, đặt keylight trên ở phía bên trái (bên phải camera trong thí dụ này), chúng ta chỉ chiếu sáng bên đầu của nữ diễn viên chứ không phải là mắt và khuôn mặt của cô, bóng của mũi nằm ngang phía bên kia mặt, nơi camera sẽ không nhìn thấy nó và bên nổi bật trình bày cho camera bằng front light, thường phẳng và ít hấp dẫn (Hình 05.02B). Đặt keylight bên đối diện hướng diễn viên đang nhìn gọi là near-side key, mà vài người thích gọi là dumb-side key (bên ngu ngốc). Dĩ nhiên vẫn có nhiều tình huống xử dụng keylight phía bên trái. Đôi khi cũng rất cần thiết. Đôi khi nó trông hoàn toàn tự nhiên và thậm chí còn thích hợp hơn. Không ai từng bị từ chối giải Oscar phim xuất sắc nhất chỉ vì họ đã xử dụng keylight ở phía bên gần, tuy nhiên, ưu đãi đối với key bên kia (far-side key) là nền tảng của nhiều thiết lập ánh sáng.

Figure 05-01

Hình 05-01:

Vị trí key quy ước, góc 45 độ bên trên và 45 độ đến từ một bên diễn viên.

Figure 05-02

Hình 05-02:

(A) Far-side key (key light ở bên khác của đường chấm); (B) near-side key (key ở cùng bên đường chấm như camera).

Đèn bên (Sidelight)

Nếu chúng ta di chuyển key light sâu hơn, vào phía bên cạnh, nó không còn chiếu quanh khuôn mặt bằng ánh sáng vào má và mắt phía bên xa (Hình 05.03A). Đèn chiếu trực tiếp vào tầm mắt đặt toàn bộ một bên khuôn mặt trong bóng tối. Khi cần hiệu ứng ánh sáng half-light này, vị trí keylight tốt nhất không phải 90 độ vào mặt nhưng hơi nhỏ hơn 90 độ. Ở 90 độ, má ở phía bên key khuôn mặt có khuynh hướng làm bóng không hấp dẫn. Bằng cách đưa ánh sáng hơi về phía trước 90 độ, bóng tối biến mất, và kết quả là một hiệu ứng half-light khá hài lòng. Nó là mẫu khuôn mặt độc đáo và tạo cảm giác rõ rệt về độ tương phản và hướng. Khi mọi người già đi, nét mặt của họ phát triển nổi bật hơn. Sidelight có khuynh hướng làm nổi bật nét mặt. Khuôn mặt người trẻ có khuynh hướng có ít nét mặt hơn chiếm và sidelight loại soft dễ bao quanh mặt họ. Trong hình 05.03B key có thể bao quanh bên kia.

Figure 05-03

Hình 05-03:

(A) Sidelight với ánh sáng ngược ở bên đối nghịch; (B) cùng cách, với key mềm bao bọc.

Figure 05-04

Hình 05-04:

Đánh đèn sâu, key ở bên xa với đèn bao mềm.


Bổ sung tốt cho key sidelight là xử dụng đèn thứ hai để "bao bọc - wrap the key" chung quanh bên xa bằng nguồn soft thứ hai hướng ba phần tư vị trí phía trước, cùng bên với key, bổ sung lấp đầy (fill) ít hay không. Điều này làm sáng sủa mặt mà không lấp đầy từ phía trước, và kết quả ánh sáng bên rất mềm, với độ tương phản phong phú và tone màu đậm nhạt trên khuôn mặt tinh tế.

Hình 05.04 cho thấy diễn viên phải đối diện góc ba phần tư với hướng camera. Từ góc nhìn của camera, key light chiếu sáng toàn bộ một bên mặt diễn viên, là một sidelight cài đặt hơi sâu. Bằng cách bao phủ ánh sáng mềm hạn chế, tạo ra sự thay đổi dần tone màu với độ tương phản phong phú và nguồn sáng pha trộn liền lạc.

Trắc trở của vị trí sidelight là, nếu diễn viên quay đầu ra khỏi nguồn, khuôn mặt trôi hoàn toàn vào bóng tối. Việc bổ sung đèn ngược sáng (kicker) đằng sau hay bên ở phía bên không có key có thể giúp xác định nét mặt trong trường hợp này (như trong hình 05.03). Bằng không, bạn có thể cho khuôn mặt tối đi và xác định hình bằng cách in bóngtrên background sáng hơn.

Figure 05-05

Hình 05-05:

Key trên cái mũi (on-the-nose) thường đòi hỏi một đèn trên cao để ngăn chặn đèn tiền (front light) làm background phẳng ra. Cũng hữu ích khi có khoảng cách giữa diễn viên và background, nếu không, không thể tránh có bóng cạnh bén (hard shadow).

Khi hai diễn viên đứng cạnh nhau, đèn sidelight tầm ngang mắt có khuynh hướng dội bóng của diễn viên vào diễn viên khác. Có thể khắc phục vấn đề này bằng cách nâng đèn cao hơn, dội bóng xuống dưới.

Đèn tiền (Front light)

Nếu chúng ta di chuyển keylight gần camera hơn, ở vị trí trực diện, bóng mũi của diễn viên sẽ nhỏ đi và toàn bộ khuôn mặt đều có ánh sáng. Nét mặt ít bị méo dạng do ánh sáng. Hình ảnh có vẻ sáng chói và "phẳng". Frontlight là quy ước hấp dẫn của điện ảnh thời đen trắng. Do cách đặt đèn chiếu chết lên mặt, giảm thiểu bóng mũi và cằm đến mức tối thiểu. Mắt sẽ rất sáng, và hai bên mặt, thái dương, và quai hàm mất độ sáng. Để ngăn chặn frontlight làm phẳng toàn bộ scene, thường là xoay đèn xuống dưới, như vậy nó có thể tách ra khỏi background với topper và siders (hình 05.05).

Nhiếp ảnh Glamour-? thường xử dụng soft light phía trước gần khuôn mặt diễn viên. Mục đích là phô hình dạng ra ít hơn (làm mũi coi nhỏ hơn) và phủ đầy chỗ thiếu. Diễn viên có nhiều nếp nhăn thường được chiếu sáng bằng frontlight super-soft. Dĩ nhiên, nó là một phần công việc của DP, trong hầu hết trường hợp, làm cho phụ nữ trông đẹp hơn.

Nói chung, frontlight làm phẳng hình ảnh. Nó ngăn chặn hình ảnh từ dạng phô ra, hình thức, bố cục, và độ tương phản. Tuy nhiên, có nhiều cách xử dụng key frontlight hiệu ứng tuyệt vời, và giảm nhẹ tác động làm phẳng bằng cách xử dụng mẹo nhỏ. Khi frontlight đe dọa san bằng ra toàn bộ hình ảnh, chúng ta có thể chiara bằng mô hình cắt đỉnh hay tách rời. Thí dụ, nếu thành lập scene với ánh nắng mạnh đi vào phòng, và góc camera thấy ánh nắng phía trước mặt, kỹ thuật hard-cut phổ biến là xử dụng khung khuếch tán, hay lá cờ cứng (solid flag), cắt ánh sáng trên mặt diễn viên. Có thể cắt ngay dưới mũi, để lại ánh sáng nóng trên miệng và cằm, hay vị trí thấp hơn, tại xương cổ, cắt tất cả ra khỏi mặt cùng nhau. Điều này cho ấn tượng ánh sáng mặt trời mạnh, trong khi làm mềm và giảm ánh sáng trên khuôn mặt. Khuôn mặt của diễn viên, bây giờ như trong bóng râm, sau đó có thể chiếu sáng từ vị trí key dễ chịu hơn, làm ánh sáng như soft phản dội từ ánh sáng mặt trời chiếu trên bề mặt chung quanh. Thông thường, bảng phản chiếu là tất cả những cái cần để nâng khuôn mặt. Bằng cách này, DP đánh lừa ánh sáng, làm nó lý tưởng hơn.

Đèn dưới thấp (Bottom light)

Suy nghĩ về ánh sáng dưới trán gợi lên hình ảnh kỳ quái, nét mặt không tự nhiên bằng ánh sáng dưới lông mày, mũi, và cằm đưa bóng lên từ lông mày. Tuy nhiên, nguồn ánh sáng thấp không nhất thiết phải có ảnh hưởng đó. Ánh sáng dội lên từ sàn màu sáng hay mặt bàn có thể tạo ra mặt rạng rỡ mềm.

Đương nhiên, có thể xử dụng vị trí thấp khi nguồn sáng mặt đất (lửa trại, chẳng hạn) hay khi diễn viên ở trên cao. Bất cứ lúc nào bạn đặt đèn ở vị trí thấp, bạn phải chuẩn bị sẵn sàng đối phó, hay học cách yêu thương, với bóng đổ lên trên background và trần.

Đặt soft light hay đèn dội mặt đất từ phía vị trí bên sau góc ba phần tư làm nổi bật đường nét cổ, quai hàm và cạnh cánh tay. Đây là cách có vài nét đẹp nhanh nhất mà không phải lo đèn đi vào khung hình. Nếu ống kính có góc hẹp (không thấy phía dưới thắt lưng) hay mặc trang phục có thể che giấu đèn thấp, điều này có thể là tùy chọn nhanh tuyệt vời. Kino Flos đặt trên sàn nhà, đèn soft light tungsten nhỏ trên sàn nhà, hay đèn PAR dội lên lộ ra màu trắng nằm trên mặt đất, tất cả những kỹ thuật này đạt được kết quả tương tự. Loại dội sàn (floor-bounce) cũng tác động chút ít việc phủ đầy phía trước.

Cao ở phía trước hay cao sang bên

Một vị trí cao có thể cho hiệu ứng ấn tượng bằng cách đặt hốc mắt trong bóng tối sâu và nhấn mạnh mũi, môi và cằm trong bóng tối. Trong The Godfather, Gordon Willis xử dụng nguồn phía trước cao soft để Marlon Brando xuất hiện đáng sợ. Trong trường hợp này, giấu đôi mắt diễn viên đi làm cho nhân vật bí ẩn và đe dọa hơn.

Mặc dù đèn phía trước cao có thể có hiệu ứng mạnh, cho scene hàng ngày, không thường mong đợi cái này. Thông thường khi địa điểm hay trường quay có nguồn ánh sáng trên cao mạnh (từ đèn thật tế như đèn chiếu sáng, huỳnh quang, hay ánh sáng mặt trời), chúng ta cố làm soft hay loại bỏ down-light đánh xuống mặt diễn viên. Grip có thể treo cờ hay khung khuếch tán trên vị trí diễn viên, hay kỹ thuật điện có thể tháo đèn, tắt nó đi.

 

TAM GIÁC ÁNH SÁNG (THE LIGHTING TRIANGLE)

Chúng ta đã và đang thảo luận về vị trí key light - ánh sáng rực rỡ chiếu sáng khu vực có thể nhìn thấy khuôn mặt diễn viên. Với ánh sáng này, chúng ta thêm vài lượng sáng lấp đầy (fill) để làm sáng bóng đổ tạo ra bởi key light. Ngoài ra, chúng ta thường chọn thêm back light hay đèn cạnh (edge light) để giúp riêng diễn viên từ background của người đó, và hình dạng khuôn mặt, cơ thể, và trang phục của diễn viên. Khi xảy ra, ba hướng chiếu - key, fill, và backlight - thường tạo thành tam giác chung quanh diễn viên.

Fill (Lấp đầy)

Đối tượng của fill light là đem độ sáng cho vùng bóng đen của khuôn mặt, tạo ra bởi key light. Để làm điều này, ánh sáng soft phải đến từ vị trí phía trước key light, thường là từ gần camera. Khi xử dụng độ sáng thấp, mức độ sáng môi trường chung quanh có thể đủ lấp đầy bóng đen, thường có thể thực hiện fill bằng bảng trắng đặt để dội sáng vào vùng tối của khuôn mặt. Khi xử dụng thiết bị, nó phải lớn, nguồn soft sẽ không tạo thêm bóng đen – đèn dội vào 4 x 4 –ft miếng xốp trắng hay bảng khuếch tán lớn như 216 hay nguồn lớn như softlight, chimera, hay soft box khác.

Lượng ánh sáng fill xác định độ tương phản và có rất nhiều điều để làm v độ sáng hay tối và ở mức độ nào đó, theo tâm trạng (mood) của scene. Nếu fill light mạnh, background sẽ rất sáng và phẳng, gọi là high key. Giảm lượng fill light sẽ định hướng của key light, tách yếu tố của khung hình, và làm cho màu sẽ bão hòa hơn. Giảm fill light hơn nữa sẽ xuất hiện bóng sâu. Tỷ lệ key/fill cao cho ra ý thức ban đêm hay bóng tối trong phòng, nhất là nếu chiếu sáng scene bằng edge lightside light. Loại này gọi là low key.

Hầu hết DP fill bằng mắt chứ không xử dụng đồng hồ. Có thể hữu ích khi bật/tắt fill light để đánh giá hiệu quả của nó. Đánh giá fill light sẽ có vài kinh nghiệm và hiểu biết về đặc tính của phim nhựa. Dĩ nhiên, khi quay video độ nét cao (HD,) DP thường có màn hình chất lượng cao trong trường quay và có thể đánh giá trực tiếp độ tương phản ánh sáng đang được giải thích bởi camera và bộ vi xử lý video.

Trong môi trường nào đó có quá nhiều ánh sáng phản dội khỏi bề mặt chung quanh sẽ có quá nhiều fillrất khó đạt được độ tương phản. Trong trường hợp này, Grip có thể giúp bằng cách đặt vài khung đen (mềm) "negative fill" 4 x 8 -ft để chặn fill light chung quanh từ một bên.

Đèn mắt (Eye light)

Eye light là một loại rất fill light mặt tiền cụ thể. Nó làm cho đôi mắt lấp lánh bằng cách tạo ra một sự phản chiếu trong nhãn cầu, và cũng lấp đầy bóng đen dưới lông mày. Đèn này thường đặt càng gần ống kính camera càng tốt. Kích cỡ của nguồn càng lớn, điểm phản chiếu càng lớn. Tuy nhiên, eye light không dữ dội, vì nhãn cầu rất phản chiếu. Eye light không cần phải san bằng thành phần tổng thể.

Obie là đèn bố trí trực tiếp trên ống kính camera, gắn kết với hộp matte. Nó có ưu điểmcùng panning, tilting, và dollying với camera. Đèn Obie duy trì mức fill tối thiểu trên diễn viên khi họ đi vào và ra những đèn khác trong khi camera di chuyển với họ trong trường quay. Đèn Obie thường có vài loại thiết bị dim. Thật tiện khi xử dụng dimming shutter, đèn huỳnh quang hay đèn LED dimmable (thí dụ, Diva -Lite 400) để có thể điều chỉnh độ sáng mà không ảnh hưởng đến nhiệt độ màu.

Đèn gắn trên camera thường hữu ích khi đi theo diễn viên qua hang động, hành lang, ống dẫn khí, hay đường hầm khi cảm thấy cần toàn thể phải màu đen nhưng cần duy trì vài lượng sáng fill tối thiểu trên khuôn mặt.

Đèn hậu, ngược sáng, và tóc (Backlights, kickers and hairlights)

Backlight làm nổi bật cạnh khuôn mặt, tóc và vai của diễn viên. Nó củng cố đường phân định hình ảnh với background. Bố trí backlight khác nhau cũng có thể nhấn mạnh đặc điểm khuôn mặt và tóc. Scene thực hiện nơi khá tối thường chiếu đèn từ sau để phân định hình ảnh trang phục nhưng không cần chiếu sáng cho họ từ góc phía trước quá nhiều. Backlight cũng là góc tốt nhất để camera có thể thấy mưa và khói.

Backlight ngược sáng góc ba phần tư (three-quarter)

Đèn kicker thường đặt tương đối thấp, từ vị trí backlight góc ba phần tư (three-quarter). Đèn chiếu phía bên khuôn mặt và tóc cho hàm, má, và mái tóc và tách bên của hình ảnh khỏi background. Nếu diễn viên nhìn nghiêng camera, backlight ba phần tư làm nổi bật góc nghiêng, và thậm chí có thể hoạt động như key-light. Vì đặt thấp, vị trí đằng sau, nó không gây ra vấn đề như đổ vào tường và có thể dễ nâng lên khỏi mặt đất. Cùng với tất cả backlight, vấn đề là luôn luôn giữ nó ra khỏi khung hình và ngăn ngừa lóe sáng trên ống kính. Thật tốt khi có thể giấu đèn đằng sau mảng trường quay hay nội thất.

Backlight bên cạnh cao

Đèn hậu bên cạnh đặt cao, một trong hai bên đối tượng, ngâm diễn viên trong backlight, hiệu quả là mạnh và ấn tượng. Bạn thấy xử dụng kỹ thuật này trong ca nhạc rock và biểu diễn múa. Khi pha trộn với đèn tiền và áp dụng tinh tế hơn, một cặp high side backlight vây bọc đầu và vai đồng đều, làm nổi bật tóc. Show phóng viên thời sự talk show hình như có một hay hai backlight đi theo họ bất cứ nơi nào. Backlights cao có khuynh hướng làm sáng mặt đất, mặt bàn, và vật nằm ngang khác.

Đèn Rim (Rimlight)

Rimlight là backlight trên cao chiếu trực tiếp vào đầu và vai, kéo diễn viên ra khỏi background. Rimlight là một màng sáng mỏng. Một lần nữa, ánh sáng sẽ tràn ánh sáng xuống sàn và phải che sáng cho ống kính.

Đèn tóc (Hair light)

Bố trí ở đâu đó giữa rimlight và top light, hair light tạo ra hiệu ứng hào quang. Áp dụng tinh tế, nó mang lại màu và bố cục cho tóc.

Đèn đầu (Top light)

Top light (trực tiếp trên đầu) chủ yếu chiếu sáng tóc và vai diễn viên. Nó không chiếu sáng mặt chút nào, ngoại trừ trán và sống mũi. Mặc dù nó có thể dùng cho hiệu ứng ấn tượng, đây không phải vị trí chiếu sáng người tuyệt vời, trừ khi người đó đang dựa nghiêng. Nó có thể có hiệu quả để tạo ra một cảm giác hình ảnh không có cá tính, vô danh trong phòng, chiếu sáng mặt bàn và bề mặt nằm ngang, không chiếu sáng khuôn mặt.

____________________________________________________________________________________

CHIẾU SÁNG VỊ TRÍ HOẠT ĐỘNG

Chúng ta hãy xem xét cách những góc độ chiếu sáng cùng nhau chiếu sáng một scene có vài diễn viên đang tương tác. Scene thể hiện trong hình 05.06 cho thấy Andy đang đứng đối diện Babette và Camile. Babette và Camile được chiếu sáng bằng đèn soft key mạnh từ cánh trái. Shot đầu tiên là shot tổng, chứa tất cả ba diễn viên trong ba -shot với định vị camera như minh họa. Với Babette nhìn sang trái Andy, key light chạm mặt Babette như far-side key khá đẹp. Camile phải đối mặt về phía key light hơn. Nó chiếu sáng phần lớn khuôn mặt của cô. Key light không chiếu sáng mặt của Andy chút nào, lưng anh ta quay vào nó, nhưng chúng ta tạo ra độ nghiêng cho anh ta bằng backlight ba phần tư (three-quarter) từ cánh phải. Backlight này cũng tạo ra cạnh chung quanh bên camera bên phải đầu và quần áo của Babette và Camile.

Figure 05-06

Hình 05.06:

Trong khi diễn tập, DP chú ý hướng khuôn mặt của diễn viên, và tìm ra góc key light có thể chiếu cho cả hai. Ở đây, ngôn ngữ cơ thể ủng hộ việc đưa soft key lớn từ bên trái camera. Cả hai khuôn mặt được mô hình hoá độc đáo từ góc độ này


Ba góc chiếu sáng cơ bản có thể tạo ra nhiều vẻ ngoài khác nhau. Sức mạnh tương đối của ba nguồn hiển thị ở đây, và cũng là màu của từng nguồn, có thể chơi bằng nhiều cách khác nhau. Thí dụ, soft key lớn tại bên trái camera có thể chơi như nguồn mạnh, đèn cửa sổ mềm, ấm, set trên camera có lẽ khẩu độ 1, với gel màu ấm (CTS ¼ là loại gel hiệu chỉnh sang màu straw (vàng nhạt, rơm) rất tốt cho việc này). Back light bên cánh phải, làm ra nguồn xanh yếu, khẩu độ nhỏ hơn độ lộ sáng (exposure) :½ với gel màu xanh nhạt (CTB ½). Fill light làm khẩu độ nhỏ hơn độ lộ sáng :2. Kết quả sẽ ra scene ánh sáng ấm độ tương phản phong phú.

Mặt khác, hãy tưởng tượng scene sẽ ra sao nếu có thể làm nguồn soft lớn thành ra ánh sáng yếu bằng cách lọc qua bóng mờ, khẩu độ dưới độ lộ sángmàu xanh lạnh (3/4 CTB). Hãy tưởng tượng backlight từ cánh phải như ánh nắng xuyên qua cửa sổ, màu và độ sáng không rõ rệt (khẩu độ trên độ lộ sáng :2), và filllight màu không rõkhẩu độ nhỏ hơn độ lộ sáng :2½. Ấn tượng bây giờ sẽ hoàn toàn khác. Phòng có vẻ mờ nhạt, và ảm đạm.

Key chéo qua đằng sau (Back cross-key)

Scene có hai hay ba diễn viên phải đối mặt nhiều hướng khác nhau, key light cho một diễn viên cũng có thể tác động như backlight hay edge-light cho diễn viên khác. Ở đây, một lần nữa, đèn chính tạo thành tam giác.

Khi hai diễn viên đang đối mặt với nhau và camera quay họ theo góc nghiêng (shot 50/50), hay gần nó, chiến lược ánh sáng phổ biến là xử dụng key back cross (hình 05.07). Diễn viên A được key từ đằng sau bên phải, diễn viên B từ đằng sau bên trái. Từ góc nhìn của camera, hai nguồn sáng này là key light far-side của mỗi diễn viên. Khi quay scene ảm đạm, tối hay cảnh đêm, key light thường di chuyển chung quanh vị trí bên và đằng sau. Tuy nhiên, chiến lược xử dụng key back cross trong bất cứ tình huống nào. Sitcom (situation comedy – hài kịch tình thế) nhiều camera (multicamera) thường xử dụng chiến lược này, vì phong cách quay phía trước sân khấu thích hợp để ngăn chặn diễn viên đối mặt với nhau góc nghiêng với khán giả.

Hình 05.07 cho thấy cách bố trí camera cho shot tổng có cả hai diễn viên đều nghiêng. Nếu đây là scene đêm, sẽ giữ mức độ fill rất thấp, đặt rất nhiều đèn nhỏ về phía có thể nhìn thấy khuôn mặt hay toàn diễn viên, cho cảm giác về bóng tối tổng thể. Lưu ý, key light diễn viên B như ngược sáng (kicker), hay backlight, cho diễn viên A, và key light của diễn viên giống như cho diễn viên B.

Cần chút fill light để giữ cho hai bên gương mặt có thể thấy từ camera sẽ hoàn toàn màu đen, tuy nhiên, phải kiểm soát cường độ rất cẩn thận để có chi tiết trên mặt mà không bị tràn (overfilling). Fill light chiếu ra như soft light, thường thực hiện fill light cho đêm ngoài trời bằng cách chiếu ánh sáng vào bảng 12 x 12 -ft trắng hay bằng ánh sáng chung quanh từ một ánh sáng trên cao như đèn khí cầu (balloon light). Tương tự, key light thật sự có thể là đèn lớn đặt xa nơi hoạt động, thường gắn trong bệ nâng trên không để chiếu sáng khu vực lớn. Trong mọi trường hợp, tạo ra cross-light đằng sau gần giống góc độ ánh sáng ở đây.

Sau khi hoàn tất shot tổng (master shot), sẽ quay cận cảnh (close-ups) lấy qua vai (over-the-shoulder - OTS). Hình 05.08 cho thấy vị trí camera. Lưu ý, key light của chúng ta đã nằm vị trí tốt để chiếu sáng khuôn mặt. Chúng ta có thể đặt backlight để giữ rìa ở hai bên không quan trọng của khuôn mặt.

Việc thảo luận cho đến nay đã xử lý chiếu sáng một nhóm diễn viên và camera cố định. Có rất ít phim không bao giờ di chuyển. Chúng ta áp dụng hoạt động trí tuệ cơ bản đã thảo luận để chế ra chiến lược chiếu sáng một shot phức tạp. Khi diễn viên di chuyển đến nhiều điểm chọn trước và camera di chuyển để quay scene đó từ nhiều góc độ khác nhau sẽ làm tăng biến số, tuy nhiên, chúng ta thường có thể chia scene ra nhiều vị trí key. Chúng ta có thể chọn chiếu sáng riêng từng vị trí key, hay chúng ta có cách tiếp cận chiếu sáng tổng quát hơn, xử dụng key, fill, và nguồn sáng lớn để chiếu sáng khu vực lớn hơn. Nếu có thể chơi ánh sáng trên một phần của scene này gần giống phần khác, có lẽ có thể điều chỉnh chút ít bằng dimmer, hay xử dụng nhiều thiết bị cầm tay khi hoạt động. Đây là nơi mà khả năng giải quyết vấn đề của DP, gaffer, và grip chính chịu trách nhiệm.

 

Figure 05-07 

            Hình 05.07:

            Ở đây, hai diễn viên đang đối diện nhau, nghiêng hướng camera, và từng có một ánh sáng chính xa-bên (trong trường hợp này, hai bank huỳnh quang). Thiết lập ánh sáng này gọi là " back cross keys". Trong hình minh hoạ, độ bao sáng của đèn huỳnh quang tăng lên với hard backlight "lót - liner" trực tiếp, cái nào cũng đặt điểm nhấn sáng quanh hướng nghiêng diễn viên.

Figure 05-08

 

            Hình 05.08:

Thiết lập thay đổi rất ít so với hình 05.07 khi camera lấy hình qua vai (over-the-shoulder OTS). Key light của diễn viên (trong hình. 05.07) bây giờ phục vụ để như edge-light cho cả hai diễn viên. Rất dễ quên chiếu cận cảnh (foreground) diễn viên khi bạn đang tập trung chiếu sáng diễn viên đối mặt với camera, nhưng không có nó, hình ảnh có thể nhìn không đầy đủ khi ráp nối cận cảnh ngược lại lại với nhau.

Bấm next để đọc tiếp



 

Add comment


GIÁO TRÌNH

CATALOG SCAN

Ai đang truy cập

We have 4 guests online
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay4
mod_vvisit_counterHôm qua714

Comment mới nhất

  • thienhungcaphe 21.08.2018 07:46
    Cám ơn rất hay, nhưng không thấy chương 6 ...

    Read more...

     
  • tanngoclighting 17.10.2014 00:33
    Ngoài ra, tuỳ thuộc theo từng hãng sản ...

    Read more...

     
  • tanngoclighting 17.10.2014 00:26
    Sorry Khi đọc về cấu tạo đèn Fresnel (hình ...

    Read more...

     
  • tanngoclighting 17.10.2014 00:14  
  • huonggiangcbe 11.10.2014 19:20
    Cháu đã gửi mail đăng ký một quyển ...

    Read more...