Sound&Lightingvn Documents

Hoàn thiện hơn nghệ thuật nghe nhìn...

  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size

Cẩm nang cho kỹ thuật viên ánh sáng trường quay & Chương 03

Article Index
Cẩm nang cho kỹ thuật viên ánh sáng trường quay & Chương 03
Phần 02
All Pages

Chapter 03

       Thiết bị ánh sáng: Kho vũ khí tungsten cơ bản

Light fixtures: The basic tungsten arsenal

Trong chương này, chúng ta sẽ thảo luận về những loại thiết bị đèn tungsten phổ biến nhất: Fresnels, soft lights, open face, parabolic aluminized reflectors (PAR), ellipsoidal spotlights (Lekos), beam projectors, area lights, cyclorama lights, và small specialty lights.{1} Mỗi loại thiết bị có ưu điểm cụ thể cho những ứng dụng cụ thể, xác định chủ yếu bằng đặc điểm luồng sáng của nó: độ sáng, độ focusability, ngang nhau, đấm, sự mềm mại, kích thước, hình dạng và màu sắc. Được đào tạo về quang học của đèn - thiết kế bóng đèn, chóa, và thấu kính – để xác định bản chất của luồng sáng. Điều này, kết hợp với những phụ kiện đặc biệt mỗi đèn đang xử dụng, cung cấp cách duy nhất để thao tác và điều khiển luồng sáng. Chúng ta sẽ thảo luận về thủ thuật xử dụng mỗi loại đèn khác nhau. Trong những chương sau chúng ta sẽ thấy những phương pháp quang học này áp dụng cho loại nguồn sáng khác như HMI và xenon ra sao.

___________________________________________________________________________________________________

BÓNG ĐÈN TUNGSTEN

Trước khi bắt đầu thảo luận đèn tungsten, trước hết chúng ta cần phải hiểu một chút về bóng đèn đốt tim và sự cân bằng màu trong nhiếp ảnh. Vật liệu phim và cảm biến hình được thiết kế để tái tạo màu chính xác khi chiếu sáng bằng ánh sáng có điểm (makeup) màu đặc biệt. điểm màu cho nguồn ánh sáng được định lượng bằng nhiệt độ màu của nó. Vì tim đèn tungsten đốt hiệu quả nhất ở nhiệt độ màu 3200 K (độ Kelvin), vật liệu phim cân bằng cho tungsten được thiết kế để tái tạo màu chính xác khi đối tượng được chiếu sáng bằng đèn tungsten (3200 K). Lưu ý, nhiệt độ màu, thể hiện bằng độ Kelvin, là thước đo sản lượng màu, không phải nhiệt độ hoạt động.

Figure 03-01

            Hình 03.01:    Đồ thị phân phối nguồn quang phổ (spectral power distribution - SPD) minh họa sự phân bố năng lượng trong quang phổ màu. Bóng đèn đốt tim rất mạnh trong màu cam và màu đỏ và yếu trong màu xanh và tím. Nếu nhiệt độ màu tăng lên, đường cong chuyển về phía dải quang phổ màu xanh.

Phim cân bằng ánh sáng ban ngày (daylight-balanced) được thiết kế để tái tạo màu chính xác khi chiếu sáng bằng ánh sáng có nhiệt độ màu khoảng 5600 K, hay ánh sáng ban ngày. Đồ thị phân phối điện quang phổ (hình 03.01) so sánh sự phân bố năng lượng trên quang phổ của nguồn tungsten với ánh sáng ban ngày. Ánh sáng ban ngày mạnh hơn cuối màu xanh trên quang phổ, và ánh sáng tungsten mạnh hơn vào cuối màu đỏ. Việc cân bằng và hiệu chỉnh màu sẽ giải thích chi tiết hơn trong chương 06. Ngoài ánh sáng ban ngày tự nhiên, đèn halogen kim loại hồ quang (metal halide arc), đèn huỳnh quang cân bằng ánh sáng ban ngày, và đèn LED cũng tạo ra cái gì đó giống như cân bằng ánh sáng ban ngày.

Trong đèn tungsten, ánh sáng được tạo ra bởi dòng điện chạy qua tim tungsten đến khi nó phát sáng, có nghĩa là, cho đến khi tim đèn bị nung nóng. Tim đèn nằm trong khí trơ trong bóng đèn thủy tinh hàn kín để tim khỏi cháy. Đèn tungsten có thể cấp nguồn bằng AC hay DC.

Bóng đèn halogen tungsten là loại bóng đèn đốt tim có chứa nhiều phần tử đặc biệt để ngăn tungsten làm đen hai bên bầu đèn. Những phần tử tái sinh này mang tungsten bốc hơi trở lại tim đèn, nơi nó sẽ tái xử dụng, do đó giúp đèn tăng tuổi thọ. Quy trình tái tạo này, gọi là chu kỳ halogen, muốn xảy ra, phải duy trì bầu đèn nhiệt độ cao (ít nhất là 250 C), vì lý do này, bầu halogen tungsten khuynh hướng nhỏ gọn và làm bằng thạch anh, có thể chịu đựng nhiệt độ cao. Hồi xưa, đèn 10 kW kích cỡ bằng quả dưa và chứa chất làm sạch chạy vòng bên trong bầu đèn để làm giữ tungsten khỏi bị đen.

Tiêu chuẩn thế giới xử dụng cho mỗi thiết bị sẽ liệt kê trong Bảng B.3 (Phụ lục B). Thường có nhiều lựa chọn thay thế những tiêu chuẩn này: bóng đèn với công suất hay nhiệt độ màu khác, hay xử dụng thủy tinh đục thay vì trong. Việc cài đặt đèn thay thế khá phổ biến, tùy mục đích xử dụng. Thí dụ, bóng đèn nhiệt độ màu là 3000 K thường có tuổi thọ bóng đèn lâu hơn đèn cùng kích cỡ nhiệt độ màu 3200 - hay 3400-K. Bạn có thể xử dụng bất kỳ bóng đèn nào cho thiết bị ánh sáng, miễn là chân đế đèn phù hợp với chân cắm bóng đèn và độ dài giữa tim đèn, LCL, như nhau. LCL xác định vị trí giữa tim bóng đèn và điểm giữa có quan hệ với chóa phản chiếu, thấu kính, và phần còn lại của bộ phận quang học. Thông tin về bóng đèn có sẵn từ GE, Sylvania, Osram, Phillips, Koto, Ushio, và những danh sách chi tiết kỹ thuật cho tất cả hãng sản xuất bóng đèn và chân cắm.

____________________________________________________________________________________

ĐÈN FRESNEL

Đèn Fresnel (phát âm freNEL) là một trong những thiết bị linh hoạt nhất, được thiết kế để tạo ra khu vực sáng tương đối rộng, ngay cả khu vực ánh sáng cường độ và kích thước điều chỉnh được. Ánh sáng từ đèn Fresnel làm bóng đổ sạch, cứng. Luồng sáng sạch làm nó lựa chọn tốt để chiếu sáng mặt diễn viên, cả trực tiếp lẫn qua sự khuếch tán. Vì những lý do này, nó là thiết bị thông dụng nhất trong phim và truyền hình (hình 03.02). Hình 03.03 minh họa vài thiết bị Fresnel mỗi thợ điện phải hiểu rõ.

Figure 03-02

            Hình 03.02: Giải phẫu thiết bị đèn Fresnel

Figure 03-03

Hình 03.03:   Đèn Fresnel có đủ cỡ, từ nhỏ xíu 100 W đến khổng lồ 20 kW. Lưu ý, ngành công nghiệp của chúng ta thường gọi tên đèn bằng công suất như 1 k, 2 k, 5 k, vân vân. Khi xử dụng chữ k, nó là kW. 1 k là đèn 1 kW hay 1 kilowatt ( 1000 W ).

Đèn mang tên thấu kính Fresnel của nó, khúc xạ những tia phân kỳ của ánh sáng phát ra từ bóng đèn vào bộ kiểm soát luồng sáng. Ống kính Fresnel có những đặc điểm bẻ cong tia sáng giống như thấu kính phẳng-lồi (plano-convex) tiêu chuẩn, nhưng thiết kế của Fresnel nén đường cong lồi thành nhiều bước răng cưa (Hình 3.4), làm nó nhẹ và mỏng hơn, để nó giữ nhiệt ít hơn. Phía sau thấu kính Fresnel bị m đục hay hơi nhám. Điều này giúp duy trì luồng sáng rất đều, và ngăn ngừa thấu kính chiếu ra hình tim đèn.

Quan trọng không kém, thiết bị xử dụng chóa hình cầu. Chóacái làm cho đèn có độ kiểm soát cao và thậm chí cả khu vực đặc thù nữa, vì hình thù của chóa như vậy nên ánh sáng phản chiếu thẳng trở lại qua bóng đèn (Hình 03.05). Do đó, tất cả tia sáng tỏa ra từ một điểm duy nhất trong thiết bị (tim đèn), đó là những cái làm thấu kính Fresnel kiểm soát luồng sạch như vậy. Vài hãng sản xuất xử dụng chóa đánh bóng, tối đa hóa độ sáng, và những hãng khác xử dụng chóa hơi mờ một chút, giúp duy trì khu vực, thậm chí rất sáng.

Figure 03-04

            Hình 03.04:   ( A ) thấu kính phẳng - lồi chụm tia sáng phân kỳ lại. ( B ) thấu kính Fresnel có cùng tác động quang học với thấu kính phẳng - lồi, nhưng nó được cắt đi để giảm trọng lượng và giữ nhiệt.

Bên trong thân đèn, bầu đèn chóa hình cầu gắn cùng với nhau và có thể di chuyển hướng tới hay xa thấu kính bằng núm điều chỉnh bên ngoài. Di chuyển bầu đèn chóa về phía thấu kính làm tràn luồng sáng, tăng sự khuếch tán và giảm cường độ cho nó (Hình 03.05A dưới). Di chuyển toàn cầu và phản xạ khỏi ống kính các điểm chùm tia, làm cho nó hẹp và mạnh hơn (hình 03.05A trên). Có thể điều chỉnh focus cho nó có cường độ hay chiều rộng luồng đúng ý thật nhanh và dễ.

Luồng Fresnel

Để liệu trước cách đèn sẽ đối xử ra sao khi diễn viên đi qua nó, khá hữu ích khi ghi nhớ hình ảnh ba chiều về hình dạng và cường độ của luồng sáng, cách cường độ tỏa ra nhiều góc, và cách thay đổi lượng spot hay flood để thay đổi những đặc điểm này ra sao. Hình 03.06 minh họa thuật ngữ về khu vực luồng, thuật ngữ xử dụng trong việc mô tả đo {2} phẩm chất của thiết bị. Đồ thị phân cực (Hình 03.07) sẽ trình bàynét về "hình dạng" cường độ luồng sángcách thay đổi từ flood sang spot ra sao.

Khi tỏa ra tối đa (flood full), luồng tương đối ngay cả khi quét 40 độ, sau đó giảm nhanh về phía cạnh. Fresnels được dùng rất nhiều ở vị trí flood. Cơ chế flood / spot thường dùng ít hơn để điều chỉnh cường độ. Lưu ý rằng khi flood tối đa, luồng không có điểm nóng trung tâm; khu vực này sáng rất đều. Khi đèn bị ố bẩn bên trong, tia sáng ít bị phân kỳ, gần như song song hơn. Luồng sáng hẹp lại và ở giữa hơi sáng hơn, giảm đi ở hai bên. Khi flood tối đa, có thể xử dụng phần luồng hẹp, về góc 10 độ. Thuật ngữ throw (ném) đề cập đến khoảng cách từ đèn đến chủ đề. Đèn ở vị trí spot throw lớn, nó chiếu sáng chủ đề bằng độ sáng ngang nhau khi ở khoảng cách lớn. Bảng A.3 (Phụ lục A) cho biết cường độ tại bất kỳ khoảng cách cho nhiều thiết bị.

Độ sáng đo được (Photometric), góc luồng sáng, và góc khu vực là những thuật ngữ xử dụng trong tài liệu bán hàng của hãng sản xuất đèn, đôi khi là dữ liệu hữu ích để hoạch định, nhưng đây không phải thuật ngữ bạn có thể nghe trong trường quay. Trong thật tế, thợ điện luôn xử dụng khái niệm này. Thí dụ, nói phòng lớn sẽ chiếu sáng bằng cách xử dụng nhiều đèn cách nhau đồng đều dọc theo tường của phòng. Để đạt cường độ sáng, thậm chí xuyên qua toàn bộ phòng, đèn được thiết lập tại flood full, và cạnh luồng sáng lng vào luồng của đèn kế tiếp. Những luồng sáng chồng lên nhau một chút ở điểm 50%, tạo ra cường độ gần 100% trên toàn bộ không gian. Khá dễ tính toán cường độ và đường kính luồng sáng nào có luồng hội tụ (làm vậy cho softlights không đơn giản). Candela (cd) là đơn vị cường độ sáng (hay nến) bằng: cd = foot candle x (khoảng cách tính bằng feet) 2. Thực hiện việc tính toán đo sáng này sẽ trình bày chi tiết trong Phụ lục A.

Đèn Fresnel tạo ra bóng nhất khi flood full. Càng nhiều vết đốm trong thiết bị, thì bóng càng ít sắc nét. Ở vị trí spot tối đa (full), tia sáng từ đèn Fresnel gần như song song, nhưng một số hơi chụm lại và băng ngang qua nhau. Điều này làm bất kỳ bóng nào từ đối tượng hơi bị fuzziness. Nếu muốn thể hiện bóng sắc nét hay hình chiếu (thí dụ, trò hài cổ điển, tạo bóng trên màn), bạn sẽ muốn xử dụng đèn tại flood full.

Figure 03-05

Hình 03.05: Thiết kế quang học của - đèn, chóa, và thấu kính - tác động đến mức độ kiểm soát dẫn tới kết quả cũng như hiệu suất và chất lượng ánh sáng. (A) đèn Fresnel dùng chóa hình cầu cùng với thấu kính Fresnel. (B) Thiết bị mở mặt (open-face) bao gồm bóng đèn đơn giản và chóa (trong trường hợp này đã điều chỉnh focus). (C) Chóa parabol, dùng trong đèn PAR và chiếu luồng (beam projector) để tạo ra trục ánh sáng gần như song song. (D) Nhiều đèn PAR hiện đại dùng bóng đèn dọc theo trục, gắn trong chóa PAR. (E) Chóa hình lelip trên đèn spot đòi hỏi phải tập trung tất cả ánh sáng đã thu thập bởi chóa. Điều này cho phép ánh sáng hình thành luồng sáng bằng màng trập và mẫu Gobo và chiếu nó lên bề mặt sắc nét hay không focus.

Figure 03-06

            Hình 03.06:      Khu vực xác định ánh sáng "khả dụng" - vùng ánh sáng có cường độ ít nhất là 10% giá trị tối đa. Luồng được định nghĩa là "ánh sáng hoạt động", diện tích chiếu sáng có cường độ ít nhất là 50% giá trị tối đa. Điểm nóng (hot spot) là điểm sáng nhất trong luồng. Thuật ngữ góc luồng (beam angle) và góc khu vực (field angle) nói về góc độ luồng sángkhu vực của thiết bị, theo thứ tự.

 

Figure 03-07

 

            Hình 03.07: Đồ thị phân phối cực, mô tả cường độ ánh sáng qua đường kính của khu vực chiếu sáng. Dấu đánh bên trên biểu thị góc luồng (ánh sáng "hoạt động-working"); Dấu đánh thấp hơn biểu thị góc khu vực (ánh sáng "khả dụng-usable"). Ở vị trí flood, ánh sáng cho ra cường độ thậm chí hầu như ngang bằng sự phát tán luồng sáng, ở vị trí spot, cường độ luồng giảm nhanh ra phía ngoài từ điểm nóng trung tâm.

Phụ kiện đèn Fresnel

Đèn Fresnel phải luôn đi kèm với cửa chắn (barn door) và bộ scrim trong hộp scrim hay túi scrim. Một gói thiết bị tiêu biểu cũng có nhiều snoot cho mỗi kích cỡ đèn Fresnel.

Scrims

Scrim là màn lưới dây thép không gỉ, dùng để giảm cường độ ánh sáng. Scrim single (duy nhất) có dây dệt thưa, xác định bởi khung vòng màu xanh lục, và giảm cường độ ánh sáng khoảng một nửa. Scrim double (đôi) dệt sít hơn, xác định bằng khung màu đỏ, và giảm ánh sáng gần hết. Bộ scrim tiêu chuẩn Hollywood bao gồm một cái single, hai cái double, một cái half-single, một cái half-double, và một cái khung gel. Cũng có Scrim quarter (phần tư) và scrim graduated (chia độ) cho vài thiết bị.

Scrim half (nửa) chỉ ảnh hưởng đến một nửa luồng sáng. Một “bottom-half double” có thể dùng để phân đều cường độ ánh sáng khi chủ đề di chuyển gần đèn (Hình 03.08). Nó làm giảm ánh sáng chiếu vào vật thể gần đèn, đưa mức độ ánh sáng xuống bằng đối tượng xa đèn hơn.

Khung gel dùng để giữ gel màu hay khuếch tán thời gian ngắn, tuy nhiên, vì sức nóng gần thấu kính, nhiều đèn làm tiêu cháy gel lắp vào khung gel. Tương tự, scrims nóng làm cháy gel trong khung gel (và tạo ra mớ hỗn độn dính trên scrim). Vì vậy, gel và vật liệu khuếch tán thường được gắn liền với cửa chắn (barn door), đặt cách xa scrim nóng.

Figure 03-08

            Hình 03.08: Scrim bottom- half dùng để phân đều cường độ khi chủ đề tiến gần đến đèn

 

Figure 03-09

Hình 03.09: Barn door chứa ánh sáng, làm luồng sáng có cạnh thẳng.

Barn door (Cửa chắn)

Barn doors cung cấp việc điều khiển vị trí những cạnh luồng sáng cơ bản nhất. Vì cửa này rất gần đèn, cạnh cắt khá mềm (Hình 03.09). Barn door thường có hai lá lớn và hai tam giác nhỏ hơn. Khi hai lá lớn nằm ngang, gọi là "Chinese", khi thẳng đứng "American". Bằng cách đóng hai lá lớn thành một khe hẹp và gấp lá nhỏ cách xa, bạn có thể làm ra một khe hẹp. Thí dụ, khe này có thể nằm ngang khi chiếu sáng mắt, hay quay theo đường chéo để tạo ra dấu gạch chéo trên hậu cảnh.

Figure 03-10

Hình 03.10: ( A ) Snoot có nhiều vòng độ mở cho phép chiều rộng luồng sáng linh hoạt hơn. ( B ) Snoot hạn chế luồng sáng trong phạm vi hình tròn hẹp

Snoot (cái mũi)

Khi cần hạn chế, hẹp, luồng tròn, thay thế barn door bằng snoot. Snoot có nhiều kích cỡ, từ rộng (gọi là top hat – mũ chóp) đến rất hẹp (stovepipe -ống khói). Vài loại snoot được trang bị bốn vòng tròn với kích cỡ khác nhau để bạn có thể điều chỉnh độ rộng luồng sáng(Hình 3.10). Bạn có thể xử dụng snoots, thí dụ, nếu bạn muốn chiếu sáng trường quay có vũng ánh sáng nhỏ - như chiếu sáng trong quán cà phê.

Focal spot (Tiêu điểm)

Focal spot được giữ lại một thời gian, trong khi đèn Fresnel đã phổ biến trong trường quay phim điện ảnh và spotlight elip không thường một phần của gói ánh sáng. Focal spot, về cơ bản, thay Fresnel vào chỗ spotlight. Ráp thêm thấu kính focal spot tạo ra góc hẹp, sáng, ngay cả thành hình tròn. Giống nellipsoidal reflector spotlight (ERS), tiêu cự là khung màn trập (shutter). Nó chấp nhận mẫu thiết kế gọi là gobo và sten, có thể chiếufocus vào scene. Nó thay đổi được thấu kính – luồng rộng và hẹp. Nó cũng đi kèm với vòng gel để thêm gel màu. Focal spotsự thay thế rất tồi cho ellipsoidal spotlight thật tế như đèn Source Four, sẽ thảo luận sau trong chương này.

Shutter (màn trập)

Màn trập giống như cửa lá sách hay rèm lớn (Hình 03.11), nhiều hàng song song nhiều thanh mở và đóng. Màn trập gắn mặt trước đèn. Màn trập có thể điều khiển giảm lượng ánh sáng đến chủ đề. Màn trập tiện dụng khi mức độ ánh sáng cần thay đổi khi quay. Cần chăm sóc để tránh chiếu hình Venetian vào chủ đề. Giữ đèn cách xa đối tượng và xử dụng vật liệu khuếch tán. Hãy thận trọng sẽ có sự thay đổi luồng sáng theo chiều dọc khi màn trập đóng lại. Màn trập có thể dùng để tạo hiệu ứng sét; màn trập đóng mở nhanh có thể cho ra tia flash đột ngột. Hãy cẩn thận xử dụng phù hợp; Màn trập sẽ bị cong sự tích tụ nhiệt nếu đóng kín quá lâu.

Figure 03-11

Hình 03.11: Shutter có thể kích hoạt bằng tay hay motor. Bộ điều khiển DMX512 - kích hoạt bằng bàn dimmer hay slider DMX512.

Fresnels tungsten 20k và 24k

Trong gần thế kỷ, đèn tungsten nguồn đơn lớn nhất là 10k. Sự ra đời bóng đèn 20k và 24k (năm 1998) đã mở đường cho rất nhiều thiết bị 20k và 24k, bao gồm thiết bị Fresnel, skypans, và chiếu luồng (beam projector). Đèn Fresnel 20k thường lớn 30-inch. Thấu kính Fresnel tuyệt vời cho việc tạo ra ánh sáng mặt trời hấp nóng qua cửa sổ khi đang làm việc trên sân khấu, hay chiếu sáng khu vực rộng cho đêm ngoài trời.

Đèn 20k thường được hỗ trợ bằng dimmer riêng. Xử dụng để đèn tăng cường độ chậm hơn bất cứ switch nào. Loại bóng đèn lớn khởi động cường độ rất cao khi b lạnh. Cường độ khởi động cao làm cháy lóe bóng đèn, và bóng đèn khá mắc tiền. Bóng đèn có nhiều điện thế khác nhau: 208, 220, 230, và 240 V. Điều quan trọng là phải cài đặt điện thế của hệ thống bạn đang xử dụng phù hợp với bóng đèn. Bóng đèn 208-V sẽ bị quá tải nếu áp điện 240 V. Ngược lại, bóng đèn 240-V chạy trên điện thế 208 V sẽ không có sản lượng và sẽ có nhiệt độ màu bị ấm.

Figure 03-12

Hình 03.12: Bốn phương pháp truy cập bên trong thiết bị Fresnel. ( A ) với hầu hết đèn 1000 W và lớn hơn, mở cửa thấu kính bằng bản lề. ( B ) Trên đèn baby-baby, mở thân đèn bên trên có bản lề ở đằng sau thiết bị. ( C ) mở nắp trên đèn Pepper, lật sang một bên. ( D ) thấu kính đèn midget được giữ đúng chỗ bằng thẻ kim loại. Nhấn thẻ để lấy thấu kính ra.

Bóng đèn và cách lắp ráp

Bóng đèn gọi tên bằng mã ba ký tự của Viện Tiêu chuẩn Quốc gia Mỹ (American National Standards Institute - ANSI). Thí dụ, Fresnel 1k điển hình dùng bóng đèn EGT. Mã ANSI liệt kê trong Phụ lục B.

Fresnels lớn nhất dùng trong điện ảnh có đế đèn bipostal, hai chấu (pin) cắm. Đèn nhỏ hơn, chẳng hạn như FEV200 W, có chân đế lưỡi lê (bayonet). Bóng đèn được liệt kê theo loại chân đế trong Bảng B.3. Hình 03.12 cho thấy cách mở lấy bầu đèn (globe) của nhiều kiểu đèn khác nhau.

Ở thiết bị nhỏ, bóng đèn chỉ cần cắm thẳng vào đế đèn và giữ ngay chỗ bằng sự ma sát. Khi lấy bóng khỏi chân đế, phải cẩn thận khỏi làm bể kính khỏi chân cắm sứ. Nắm chặt chân cắm sứ và lung lay bầu đèn ra ngoài. Không đụng vào kính. Trên đèn 2000 W và lớn hơn, ốc vít trong chân đế bóng, siết chặt quanh chân cắm bóng đèn. Bầu đèn sẽ thoát ra khi nới lỏng ốc vít này.

Vị trí bóng chóa rất quan trọng để phản chiếu ánh sáng thích hợp. Tim bóng đèn nằm chính xác tại tiêu điểm của chóa. Do đó, nếu bóng đèn không gắn đúng cách hay chóa bị cong, hiệu suất của đèn bị giảm mạnh.

Góc nghiêng (Tilt angle)

Để bảo đảm đủ độ tản nhiệt, hãng sản xuất khuyên nên treo đèn Fresnel với chân đế nằm dưới. Mỗi loại bầu đèn có giới hạn độ nghiêng, mà không giảm tuổi thọ bóng. Thí dụ, đèn senior (thiết bị Fresnel 5k) nên gắn bóng đèn theo hướng trong vòng 45 độ theo chiều dọc. Ngoài việc làm tổn hại đến bóng đèn, treo đèn baby junior 2000 W nghiêng xuống quá mức sẽ làm cháy chóa đèn. Trong thật tế, chỉ quan tâm tới góc nghiêng khi dùng đèn lớn, bóng mắc tiền. Đèn nhỏ thì treo cách nào cũng đượct.

____________________________________________________________________________________________________

ĐÈN MỀM           (SOFTLIGHT)

Softlight (Hình 03.13 và 03.14) được thiết kế để tạo ra ánh sáng khuếch tán bóng không rõ rệt. Ánh sáng từ bầu đèn hướng vào chóa lõm trắng. Vì là gián tiếp, nó dội ra khỏi bề mặt trắng khuếch tán, và đi qua khẩu độ tương đối lớn, kết quả ánh sáng bị mềm và có góc rộng, thậm chí, không kiểm soát được sự phát tán. Softlight thường dùng để lấp đầychiếu tổng quát trong phòng.

softlight dùng ánh sáng gián tiếp, tạo ánh sáng trên mỗi watt ít hơn Fresnel. Hầu hết softlight có nhiều bóng đèn, mỗi cái có switch riêng, giúp dễ tăng hay giảm cường độ ánh sáng. Hình 03.15 cho thấy egg crate và snoot, cũng có thể dùng để chứa và điều khiển softlight. Khung gel cũng là phụ kiện tiêu chuẩn. Đèn mềm thường không có scrim, nhưng bạn có thể ứng biến bằng cách chèn scrim nhỏ giữa chân đèn và bề mặt chóa trắng, kẹp với egg crategiữ tại chỗ bằng grip clip.

Để duy trì cường độ tối đa và nhiệt độ màu thích hợp, phải làm sạch chóa trắng hay sơn lại định kỳ. Khi sơn lại bề mặt bên trong, nên dùng sơn “best boy white”. Best boy white phản chiếu nhưng không đổi màu ánh sáng và chịu được nhiệt độ cao. Nếu dùng sơn màu trắng loại thường, nó sẽ tạo ra màu. Để truy cập vào bóng đèn, nới lỏng ốc tay để khóa cái giỏ vào chóavặn mở đế cắm. Bóng đèn có hai đầu, giữ chắc tại chỗ bằng đế sứ lò xo. Để ráp bóng đèn, chèn một đầu và đẩy lo xo đến khi đầu kia có thể trượt vào

___________________________________________________________________________________________________

ĐÈN TÚI ("BAG" LIGHT)

Có thề tạo ra ánh sáng mềm bằng cách chiếu ánh sáng qua khung khuếch tán giữ trên chân hình chữ C, tuy nhiên, đèn túi giảm thời gian và đồ linh tinh trên trường quay đáng kể,thực chất, nó thay thế khung khuếch tán và lá cờ bằng phụ kiện nhẹ, khép kín, gắn trực tiếp vào phía trước đèn. Softbox vải hay đèn túi (thường gọi là Chimera (quái vật), tên của một hãng sản xuất) là phụ kiện được thiết kế để tạo ra ánh sáng mềm dễ chịu bằng cách khuếch tán tia sáng và mở rộng kích cỡ nguồn, trong khi cũng có chứa ánh sáng giữa thiết bị và sự khuếch tán. Thao tác chiếu sáng theo cách này được thảo luận chi tiết hơn trong chương 06. Hình 3.15 cho thấy thiết bị Túi Barger, thiết kế đặc biệt để đính kèm softbox vải.

Figure 03-13

Hình 03.13: Mổ xẻ soft light 2k.

 

Figure 03-14

Hình 03.14: Soft light và phụ tùng. ( A ) Egg crate (thùng đựng trứng): đen, bằng lưới kim loại, giúp kiểm soát độ tràn sáng. Nên giữ Egg crate cạnh mỗi Soft light vì thường dùng. ( B ) Khung khuếch tán (ở đây nó đặt phía trước snoot (cái mũi)): khung gel vuông này vừa phía trước thiết bị để giữ gel màu hay khuếch tán. ( C ) 750 W zip. ( D ) 4 k soft. ( E ) Softlite 8 k có tám bóng 1 k.

Figure 03-15

Hình 03.15: Đầu (head) Barger Lite được thiết kế đặc biệt cho softbox vải. Nó có vài ưu điểm hơn xử dụng thiết bị Fresnel hay open-face có phụ kiện softbox vải. Đầu này rất nhẹ, có khóa xoay nghiêng, thiết kế để ngăn ngừa nhăn nheo (vấn đề phổ biến), và xử dụng bóng đèn hai đầu có chóa phản chiếu sỏi (pebbled) để chiếu sáng cân bằng toàn bộ khuếch tán. Mỗi bóng 650 - hay 1000- W đều có switch riêng để dễ điều chỉnh độ sáng. Barger làm đầu này có nhiều hình dạng và kích cỡ : từ nhỏ 3 bóng lên đến 12 bóng 12 kW.

_____________________________________________________________________________________________________

ĐÈN MỞ MẶT (OPEN-FACE)

Như tên gọi, đèn mở mặt không có thấu kính. khá đơn giản, ít tốn kém và ít tinh tế hơn Fresnels. Luồng không sạch như Fresnel. Ánh sáng từ đèn mở mặt phát ra từ hai chỗ, bóng đèn và chóa, tạo ra đường bóng đôi. Đèn mở mặt cho ánh sáng dội ra tốt (hướng vào bề mặt bị dội màu trắng) hay có thể thuận tiện khi chiếu sáng những yếu tố hậu cảnh trường quay. Dùng để chiếu sáng diễn viên, cần khuếch tán vừa đến mạnh để pha trộn nguồn đôi và nghe những lời rủa ánh sáng chói mắt.

Thiết bị mở mặt có thể được chia thành ba loại: thiết bị đèn prime (chủ yếu), broad (rộng), nook (soi góc), và đèn kit cầm tay. Hình 03.16 minh họa một số đèn mở mặt mà thợ điện phải quen thuộc.

Thiết bị Prime (chủ yếu)

Thiết bị Prime thể hiện trong hình 03.17 xử dụng bóng đèn hai đầu. có mặt tròn và chóa điều chỉnh cho flood / spot, đi kèm barn door và bộ scrim. Họ có trọng lượng nhẹ, bền, đèn có cường độ cho mỗi watt tương đối cao và có nhiều điều khiển hơn đèn broad và nook. Mọi kích cỡ đều gắn trên stud baby.

So tính quang học với đèn Fresnel, đèn mở mặt chưa được tinh chế lắm. Cơ chế flood / spot làm đổi vị trí bầu đèn liên quan đến chóa (hình 03.05b). Khi bầu đèn gần chóa, chóa phát ra luống rộng, khi kéo bầu đèn xa chóa, nó phản chiếu tia nhiều hơn nên cho ra luồng hẹp hơn. Đèn mở mặt có khuynh hướng tràn ánh sáng khắp mọi nơi. Để bù lại, cần barn door lớn.

Thiết bị Prime mở mặt thường chiếu dội vào bề mặt trắng như xốp (foamcore) để tạo ra ánh sáng mềm. Lưu ý, đèn mở mặt có khuynh hướng cháy rất nóng và có thể làm tan chảy bảng foamcore này hay phá hủy lá cờ (flag) nếu đặt nó gần đèn quá. Hãy suy nghĩ kỹ trước khi treo đèn gần bộ này, và cho phép thông gió trên thiết bị.

Figure 03-16

Hình 03.16: Thiết bị mở mặt (Open-face): (A) 650 W teenie-weenie, (B) 1k Mickey, (C) 2k mighty, (D) 2k blonde, (E) 1k redhead, (F) 1k broad, (G) 1k or 2k nook light.

Đèn broads và nook

Đèn broads và nook (hình 3.16F và G) bao gồm bóng đèn hai đầu nhỏ và dài, chóa màu bạc, cong hay hình chữ V. rẻ như bèo, nhỏ và nhẹ, vì vậy có thể dễ giấu trong trường quay. Vì đèn broad và snook tạo ra ánh sáng thô, cứng, nến có khuynh hướng được xử dụng cho công việc như ném ánh sáng trên hậu cảnh, chiếu phía sau phần lớn cảnh quay, hay chiếu xuyên qua (translight). cũng xử dụng làm đèn hoạt động.

Bộ dụng cụ ánh sáng (Light kits)

Đội kỹ thuật camera nhỏ, lưu động thực hiện video tài liệu, công nghiệp, quảng cáo và phim thường xử dụng đèn mở mặt cầm tay. Chiếu sáng bằng bộ dụng cụ đầy đủ phụ kiện, bao gồm phần cứng và chân nhẹ, thích ứng. Thiết bị thường nhỏ, 1000 W hay nhỏ hơn (Hình 03.18).

Chất lượng ánh sáng có thể được thao tác xử dụng khung gel để đổi màu hay khuếch tán ánh sáng. Vì ánh sáng thô từ thiết bị mở mặt thường cứng và không hấp dẫn, người quay phim tìm cách làm mềm nguồn, đưa ánh sáng vào cái dù màu bạc, hay gắn thêm softbox loại Chimera vào thiết bị.

Figure 03-17

Hình 03.17: Mổ xẻ thiết bị mở mặt blonde 2k.

Figure 03-18

Hình 03.18: Bộ dụng cụ mở mặt Lowel và phụ tùng. Bộ lắp ráp DP bao gồm bốn đèn DP 1 k, chân, scrim, barndoor đặc biệt, khung khuếch tán, gel trộn màu, gel màu xanh để hiệu chỉnh màu, chóa super spot, móc (clamp) treo (móc gỗ đặc biệt ), thùng bóng đèn dự phòng, dây nguồn, và phần mở rộng.

Bấm next để xem tiếp....



 

Add comment


GIÁO TRÌNH

CATALOG SCAN

Ai đang truy cập

We have 5 guests online
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay87
mod_vvisit_counterHôm qua623

Comment mới nhất

  • thienhungcaphe 21.08.2018 07:46
    Cám ơn rất hay, nhưng không thấy chương 6 ...

    Read more...

     
  • tanngoclighting 17.10.2014 00:33
    Ngoài ra, tuỳ thuộc theo từng hãng sản ...

    Read more...

     
  • tanngoclighting 17.10.2014 00:26
    Sorry Khi đọc về cấu tạo đèn Fresnel (hình ...

    Read more...

     
  • tanngoclighting 17.10.2014 00:14  
  • huonggiangcbe 11.10.2014 19:20
    Cháu đã gửi mail đăng ký một quyển ...

    Read more...