Sound&Lightingvn Documents

Hoàn thiện hơn nghệ thuật nghe nhìn...

  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size

Ánh sáng Ca nhạc & Chương 17

 

 

CHƯƠNG 17

Ánh sáng kỹ thuật số và Media Server

                      Digital Lighting and Media Servers

            (Từ “media server”, đến nay chưa ai dịch ra tiếng Việt rõ ràng, ngắn gọn và dễ hiểu, nếu theo tự điển thì nghe rất kỳ khôi, nên tôi để nguyên, không dịch – ND).

Ánh sáng ca nhạc chắc chắn đã có một bước tiến hướng tới việc điều khiển việc thể hiện sân khấu trực quan hơn bằng việc bổ sung ánh sáng kỹ thuật số (digital) mới nhất, media server, và tường diode phát sáng (LED). Cộng đồng ánh sáng đã chuyển chỗ ra ngoài sự chiếu sáng và hiệu ứng thật tế cho ánh sáng âm nhạc để kết hợp thêm chiếu hình ảnh đồ họa, ảnh tĩnh, và clip phim. Hình ảnh và những thành phần di động trực quan này cho phép người thiết kế ánh sáng sáng tạođiều khiển hình ảnh này thành mặt hàng chủ lực của hầu hết hệ thống ánh sáng cho tour lưu diễn ca nhạc.

Thêm kiểm soát media trực quan cho ánh sáng

Như thể hoàn thành nhu cầu ánh sáng cho những nghệ sĩ vẫn chưa đủ, người thiết kế ánh sáng trách nhiệm thiết kế và kiểm soát những media trực quan cùng với sự ra đời của ánh sáng digital media server. Ánh sángdigital xử dụng kỹ thuật chiếu digital để sửa đổi thông số luồng sáng, chủ yếu là cường độ, hình dạng, và màu sắc. Một media server là một máy tính dành riêng cho nhiệm vụ tổ chức và phát lại video clip, hình ảnh, hay hình ba chiều trong tiến trình biểu diễn. Sự kết hợp của hai thành phần này, với sự trợ giúp của màn hình tường LED (cũng được thúc đẩy với media servers), đã trình bày thế giới ánh sáng giải trí với công nghệ mạnh và kiểm soát hơn nữa, có thể nâng cao và tấn công thị giác và khơi gợi cảm xúc, nhiều hơn so với ánh sáng chỉ cần thay đổi cảnh trí.

Thêm hình ảnh là một sự tiến triển tự nhiên và không thể ngăn cản va chạm với ánh sáng ca nhạc, bắt đầu vào giữa thập niên 1990. Việc xử dụng hình ảnh vẫn còn tiến triển với tốc độ rất nhanh mà giải thích việc này sẽ bị lỗi thời từ thời điểm ấn hành sách này. Visual media hướng tới ánh sáng giải trí được thúc đẩy bởi sự đổi mới thông minh và bổ sung thêm giao thức máy tính và trộn với phương pháp viễn thông. Đây là tất cả kết quả của nhiều nỗ lực cải thiện moving light, bằng cách xử dụng giao thức DMX-512, để quản lý tốt hơn. Ngoài ra, có một lợi ích tài chính đáng kể, bất cứ lúc nào bạn có thể kết hợp những nhiệm vụ công việc và chức năng thiết bị, trong trường hợp này, đã khích đội kỹ thuật ánh sáng làm việc hăng say hơn người thiết kế hệ thống ánh sáng kiểm soát toàn bộ media servers, cũng như có thể bớt phần lớn kỹ thuật viên video. Tôi chắc chắn phải xem xét điều này, hay ít nhất là vô tình, đã làm hài lòng người kế toán.

Việc chiếu clip và hình động đã xử dụng trong chương trình sân khấu live kể từ khi phát minh máy chiếu phim tại thế kỷ 20. Bill Graham đã nổi tiếng với hoạt hình trước ca nhạc Fillmore và những bộ phim khác của ông trong tiến trình thay đổi thiết lập giữa những ban nhạc, nhưng những cue này chỉ vận hành bằng tay. Chỉ khi những tour lưu diễn gần đây đã điều khiển media hạ cánh trực tiếp vào tay đạo diễn ánh sáng, cùng với rất nhiều tùy chọn. Thêm kiểm soát media server tự động thúc đẩy người thiết kế ánh sáng và lập trình viên bố trí cho tầm nhìn những nghệ sĩ, mà làm cho thậm chí có giá trị hơn cho chương trình, nhưng tùy theo  giá cả. Công cụ mới, phần cứng, phần mềm, cách nói, và thông tin kỹ thuật đã thêm vào lưu trữ của người thiết kế ánh sáng ngoài đèn, dimmer, và console.

Medusa Icon M

Đầu tiên, như thường lệ, chúng ta nên biết thêm một chút lịch sử. Sự phát triển về kiểm soát một ánh sáng digital từ bàn điều khiển ánh sáng bằng cách của Light & Sound Design, một công ty có nguồn gốc ở Birmingham, Anh. Sau khi thành lập, chính nó thành một công ty sáng tạo với khách hàng như AC/DC, Prince, và Madonna, họ chuyển văn phòng đến Los Angeles khoảng 1981. Vài năm sau, Vari*Lite cho ra VL.1, và Light & Sound Design bắt đầu làm việc trên moving light độc quyền của nó, gọi là Icon, cuối cùng đã cho khách hàng thuê trong năm 2003, mặc dù sự kiểm tra Icon của họ bắt đầu thời điểm năm 1993. Sau đó đến năm 1999Lighting Dimensions International (LDI), khi Medusa Icon M được giới thiệu bao quanh bằng tấm màn bí ẩn và chứng minh cho những nhóm ít người cùng thời điểm (Hình 17.01).

Hình 17.01:   Medusa Icon M

Mark Hunt, kỹ sư hệ thống hình ảnh và phần mềm của Icon M, giải thích, "Medusa đã phát triển trong vòng bí mật nghiêm ngặt. Có tin đồn nó sẽ không bao giờ hoạt động, và nếu làm được, giá sẽ quá mắc. Medusa Icon M đèn digital đầu tiên mặc dù tên " digital light” đã không coi là thuật ngữ chính thức tại thời điểm đó. Nó ra đời như một kết quả của sự bền bỉ  của Bill Hewlett và công nhận của ông về những khả năng của công nghệ DLP của Texas Instruments. Hewlett là giám đốc kỹ thuật của Light & Sound Design. Ý tưởng về đèn digital hoàn toàn khái niệm của ông ta, và ông đã gia nhập công ty để xem qua dự án.

Icon M xử dụng công nghệ micromirror Digital Light Processing (DLP) của Texas Instruments. Nó chứa toàn bộ catalog gobo DHA trên board, với những hình ảnh vector tùy chỉnh hay bitmap grayscale, mỗi cái đều truy cập ngẫu nhiên ngay lập tức. Công nghệ DLP cho phép dùng digital cho dimmer, iris, flash, và những chức năng zoom. Medusa không bao giờ đạt được công suất, và khi chúng tôi hỏi Hunt tại sao, ông nói, "Vấn đề chính là độ sáng. Chúng tôi không bao giờ có đủ độ sáng để cạnh tranh với những đèn khác, và cảm thấy thiết bị sẽ hữu ích như một cái đèn cũng như là hiệu ứng. DL.1 đã chứng minh quan điểm của chúng tôi". (sẽ nói thêm về DL.1 trong chương này).

Series Digital Light (DL) của High End Systems

High End Systems bắt đầu di chuyển sang ánh sáng dựa trên digital với sản phẩm scanner Catalyst và trình diện một năm sau Medusa Icon M. Đèn Catalyst ban đầu kết hợp media serverkính di động với máy chiếu hình video. Richard Bellview - giám đốc công nghệ của hệ thống High End và là người sáng tạo ra đèn scanner IntelliBeam đầu tiên (khoảng năm 1990) và gần đây thiết bị SHOWPIX và SHOWGUN cho biết: "Tôi nghĩ, chúng tôi cung cấp tín dụng Richard Bleasedale cho việc cung cấp khái niệm video media server Catalyst. Mr. Bleasdale là người viết phần mềm và người phát minh phần media servercho  Catalyst. Scanner Catalyst đầu hình thành bởi Peter Wynne Wilson của WWG (từ viết tắt, bắt nguồn từ hai chủ sở hữu, Tony Gottelier và Peter Wynne Wilson). Trong việc đưa hai khái niệm cùng lúc, về cơ bản chúng tôi cho mọi người thấy có thể xử dụngviệc chiếu video như là một công cụ giải trí khác với chiếu video thông thường. "Thuật ngữ đèn digital chỉ đơn giản là phát minh tại thời điểm đó để được sự chú ý của cộng đồng ánh sáng. Bellview giải thích: "Chúng tôi xử dụng thuật ngữ đèn digital để xác định sản phẩm bộ khiển DMX cho ra hình ảnh không như stencil, mà bằng vài loại van điều khiển ánh sáng. Yếu tố để xác định là điều khiển công cụ bằng một console ánh sáng, nếu không, nó chỉ là một máy chiếu. "Trong năm 2003, hệ thống High End ra mắt media server Catalyst khả năng áp dụng hơn 80 hiệu ứng về hình ảnh và màu sắc cho digital media.

DL.1 (thế hệ thứ hai) ra mắt ở hội chợ Professional Lighting and Sound Association (PLASA) tại London vào năm 2003, được thiết kế để bổ sung cho media server Catalyst. Việc chuyển đổi từ hệ thống lắc kính sang DL.1 đơn giản chỉ là một hệ thống chiếu gói với một cái càng di động (moving yoke). Nó xử dụng cả hai tiêu chuẩn thông tin liên lạc VGA (video graphics array), RGBHV (red, green, blue, high voltage), và input là S-Video để chiếu, phim, hay nội dung đồ họa, nhưng với khả năng lập trình DMX được điều khiển hay focus từ xa. LD bây giờ có thể chuyển đổi việc lựa chọn input video và chọn nội dung từ nhiều thiết bị đồng thời với màu, độ sáng, độ tương phản, và những thông số liên quan đến video, chẳng hạn như tính năng keystone correction (keystone đền bù hình ảnh trên một bề mặt ngoài góc chiếu). Hệ thống High End tiếp thị DL.1 như moving light digital thương mại đầu tiên của ngành công nghiệp ánh sáng. Hiện nay không sản xuất DL.1 nữa.

DL.1 đã được kết nối với cable dữ liệu và RGB đến media server Catalyst, thường gắn trong rack (số lượng tùy thuộc vào lượng đèn mà nó điều khiển) và bố trí ngoài sân khấu hay đôi khi treo lên. Sự đổi mới mang tính đột phá và công nghệ xử dụng cho media server DL.2 và một máy ảnh Sony gắn ở phía trước nguồn cấp dữ liệu cho live-action. Đối với những thay đổi trong thế giới moving light nhanh hơn thế giới video, Bellview đã được yêu cầu giải thích sự khác biệt so với series DL: "Chúng ta hãy nói về lập đi lập lại, diễn ra rất nhanh trong thế giới video. Chúng tôi xây dựng một công cụ ánh sáng tự động và năm, sáu năm sau, chúng tôi làm cũng công cụ này với sự thay đổi rất ít. Video thì thay đổi hàng năm hay nửa năm, và tất cả mọi người làm video đều hiểu có những tiến bộ thay thế sản phẩm hiện tại của họ. Khi chúng tôi bắt đầu tracking video trong thế giới ánh sáng, vẫn diễn ra lập lại dựa trên kỳ vọng của video. Vì hiệu suất của hệ thống chiếu sáng tăng lên, DL.2 đã được tạo ra để đưa server vào ánh sáng digital và phá vỡ việc dây cable lỏng lẻo video chạy xuống FOH (Front Of House), để làm nó về cơ bản thành hoạt động plug-and-play".  Đã thực hiện tiến bộ nội dung cho DL.2, nhưng bây giờ cũng không sản xuất nữa.

Đầu năm 2008, phát hành DL.3 với một media server on-board Axon, cho độ sáng cao hơn, 6500 lumens (bằng cách xử dụng bóng đèn chiếu 330-watt duy nhất và cải tiến bộ quang học), tính năng mới, và cung cấp thư viện bổ sung phim lập lại và hình ảnh có độ phân giải cao. Media server tích hợp cũng hỗ trợ nội dung tuỳ chỉnh của người dùng với khả năng nhập những đối tượng ba chiều, tập tin media, và hình ảnh động (Hình 17.02).

Hình 17.02:     Đèn DL.3 digital.

Trong tháng sáu năm 2008, Barco công bố việc mua lại hệ thống High End. Barco đứng đầu trong bốn lĩnh vực sản phẩm của thị trường cho thuê và dàn dựng: màn hình video LED, những sản phẩm LED, máy chiếu địa điểm lớn, và những sản phẩm xử lý hình ảnh. Hệ thống High End được tích hợp vào Barco’s Media and Entertainment division, ngay lập tức tăng chia sẻ thị trường giải trí live và tài sản trí tuệ của họ. Chiến lược mua lại doanh nghiệp này chắc chắn là dấu hiệu của sự hội tụ của những đoạn video và ánh sáng, là một khu vực tăng trưởng và phát triển ngày càng tăng.

Trước việc mua lại này, đèn DML 1200 (Hình 17.03) được đưa ra trong năm 2007 như là một đèn digital siêu nguồn sáng di chuyển và máy chiếu video chất lượng cao. Nó xử dụng đèn thủy ngân cao áp 300-watt, và ở chế độ đèn, thiết bị nàyđộ sáng tương đương lượng sáng moving light 1200 watt- 12.000 lumens. Trong chế độ video, ánh sáng phát ra bị giảm còn 10.000 lumen. Thiết bị có công cụ DLP hoàn toàn kín và video DLP đủ màu. Như một lựa chọn, có media player tích hợp trong, dựa trên media server Hippotizer V.3.

Sự phát triển của đèn Digital

Series High End DL không dự cuộc thi nào, và thương hiệu riêng của là tên gắn liền với đèn digital. Tuy nhiên, tại Frankfurt Sound Prolight 2008, hai hãng sản xuất mới  thành lập xuất hiện: ROBE Lighting giới thiệu hai model đèn digital, DigitalSpot 3000 DT và 7000 DT (Hình 17.04), và SGM đưa ra Giotto Digital 1500 (Hình 17.05). Thách thức là sản xuất một đèn hiệu ứng máy chiếu mà còn có cường độ cạnh tranh như là đèn moving light. Trong khi phần mềm và kiểm soát digital đã cho thấy sự tiến bộ ổn định, lại những vấn đề về giải nhiệt. SGM Giotto 1500 nỗ lực giải quyết vấn đề đó. Nó bao gồm một tính năng làm đèn giảm điện năng trong trường hợp quá nóng, nhưng cường độ tăng lên lại cạnh tranh với moving light và có thể đạt được bằng cách xử dụng bóng short arc Philips MSR Gold 1200 FastFit, được đánh giá 48.000 lumens.

Hình 17.03:     DML-1200

Hình 17.04:     DigitalSpot 7000 DT

Hình 17.05:     Giotto Digital 1500

SGM đã đưa ra cách tiếp cận khác với High End với media server on-board của nó, Axon và Catalyst. Giotto Digital 1500 xử dụng công nghệ DLP và có hệ thống hiệu ứng đồ họa digital.Thư viện hình động và định dạng AVI-MPEG4 có thể cập nhật không dây.

ROBE 's DigitalSpot 3000 DT là moving light digital đầu tiên kết hợp đèn wash LED ở phía trước thiết bị. Thiết bị này được đánh giá 2700 lumens từ bóng đèn chiếu duy nhất 200-watt và được xử dụng cho những đối tượng nhỏ. DigitalSpot 7000 DT dựa trên công nghệ màn hình LCD và LED. Nó có bóng đèn chiếu 330-watt cho ra 6500 lumens. Kết hợp máy chiếu digital và module 48- LED RGBW tạo ra hiệu ứng gobo digital và màu bão hòa chỉ trong một đèndigital.

Chỉ có ba hãng sản xuất phát hành những sản phẩm digital cho đến nay (2010), sẽ thú vị khi  xem diễn ra sự cạnh tranh trong thị trường này. Theo những doanh nghiệp đối đầu  trong việc sở hữu thị trường digital, tùy chọn đèn LED rất phong phú và phát triển. Màn hình LED độ phân giải cao và thấp, Phẳng và dễ uốn cong, rèm mềm và hình dạng khác, chẳng hạn như ống, dải, lợp ngói, cung cấp phạm vi phát sáng tùy chọn rộng hơn so với làm đèn digital, bị giới hạn khi chiếu phía trước hay sau.

Media Servers

Media Servers, thiết kế để kiểm soát những media trong cách trực quan cho những người thiết kế ánh sáng, giám đốc, hay lập trình viên qua giao thức DMX 512. Vì những thông số media server thường vượt quá 512 channel trong một show, và còn nhiều đèn thông thường và moving light khác, điều này đẩy giới hạn kiểm soát yêu cầu tổ chức điều khiển show thông qua nhiều universe (một universe bằng một nhóm DMX 512 channel). Nói chung, xử dụng chữ cái để tách riêng mỗi universe, thí dụ, A512 sẽ là đèn thông thường, LED, và hiệu ứng, B512 sẽ đại diện cho moving light và C512, D512 sẽ đại diện cho đèn digitalmedia server. Trong khi đèn digital cơ bản là chiếu nguồn ánh sáng độc đáo luồng, cường độ và màu đa dạng, media server là một máy tính thư viện video clip và hình ảnh tĩnh. Nó có thể xử dụng để thao tác bất kỳ hình ảnh nào với màu, hiệu ứng, và chỉnh sửa hình cho những bề mặt (cong hay phẳng) qua những nguồn ánh sáng digital, hay tương tự như thao tác hình ảnh xuất hiện qua những màn hình LED khác.

Những hãng sản xuất bộ điều khiển ánh sáng đã thích nghi nhanh để mang trực quan, media server, và ánh sáng thân thiện cho người xử dụng, console đều bao gồm tất cả và phần mềm, switch chuyển đổi, lập trình, ghi cue, và phát lại hoạt động cùng nhau một cách hợp lý. Nó có nhiều nhiệm vụ, nhưng điều khiển chủ yếu là quản lý danh sách hiệu ứng và chức năng đã được giới thiệu với người thiết kế ánh sáng và giám đốc và đẩy biên giới media server lên tầm cao để khán giả được thưởng thức những đồ họa trực quan live.

Khả năng của Media server

Hiện nay, có cả chục hãng sản xuất media server cung cấp sản phẩm và phụ kiện có thể xử dụng cho thị trường này. Chỉ có vài hãng sản xuất đề cập ở đây để thí dụ về media server có khả năng cung cấp nhiều tính năng. Về cơ bản, sự khác biệt là những biến đổi trong dung lượng lưu trữ tập tin, đồ họa và khả năng tác động, và việc lựa chọn nội dung miễn phí bao gồm trong gói phần mềm của media server. Tuy nhiên, cần nhiều thành phần phần cứng tiêu chuẩn hóa để thực hiện những chức năng cơ bản cho media server và tạo ra những hiệu ứng mà tất cả hãng sản xuất đều có. Media server sẽ có một máy tính, bao gồm:

HDD lưu trữ nội dung rất lớn

■ Một card đồ họa hiệu suất cao

■ Một console, DMX hay Ethernet

Hình 17.07:     Axon Media Server.

Ethernet là một giao thức truyền thông chuẩn, nhúng trong những thiết bị phần cứng và mềm, dành cho xây dựng local area network, hay LAN. Media server gởi một tín hiệu màn hình từ output video của máy tính đến máy chiếu và light-emitting media, chẳng hạn như màn hình hay thiết bị LED độ phân giải thấp hay cao. Nếu nó yêu cầu điều khiển DMX, media server tạo ra dữ liệu DMX từ những điểm ảnh video internal và gởi dữ liệu tới đèn. Mỗi hãng sản xuất media server sẽ có những tính năng riêng biệt, cuối cùng sẽ gởi đến nguồn sáng hay chiếu, và rất nhiều những tiêu chuẩn trong tất cả hãng sản xuất, chẳng hạn như chỉnh keystone, xoay, màu, và tỷ lệ hình. Những hãng sản xuất đôi khi thay đổi cách gọinhững chức năng tiêu chuẩn, bằng cách xử dụng tên độc quyền như là "Generator Collage, mà High End Systems Axon xử dụng (hình 17.07), hiện ra điều tương tự (pha trộn ánh sáng digital với nhau để tạo thành một hình ảnh liền mạch) là "Soft Edge Blending" của media server Coolux International’s Pandora’s Box mediahiệu Box.

Với chức năng hoàn thành tiêu chuẩn, những media server khác nhau về tính năng và giá cả (thông thường tỷ lệ thuận với cách nâng cấp của họ), bao gồm cả nội dung cung cấp thư viện, lập bản đồ pixel (cách nhân rộng kỹ thuật video xử dụng trong các thiết bị màn hình), hay tính năng đồng bộ hóa dữ liệu âm thanh.

MBox

Một thí dụ về sự phát triển, Production Resource Group (PRG) xử dụng công nghệ phát triển từ gốc của Medusa Icon M cho thiết kế của họ MBox Extreme. MBox Extreme là một thiết bị rack server duy nhất được trang bị hai output video có thể dùng để điều khiển máy chiếu, đèn LED tường, hay những màn hình phát sáng khác. Đơn vị này lưu trữ lên đến 65.535 video và hình động! Chương trình lớn sẽ xử dụng nhiều server MBOX (hiện nay lên đến 14) để có được độ linh hoạt họ muốn. Tour lưu diễn Madonna đã xử dụng một server duy nhất loại (HD), nội dung sau đó chia nhỏ thành nhiều đoạn video cho vài màn hình, đồng bộ hoàn hảo giữa những màn hình.

Green Hippo

Green Hippo phát triển nhiều sản phẩm khác nhau để đáp ứng cho người xử dụng lớn và nhỏ. Hippotizer Express xử dụng một định nghĩa cho tiêu chuẩn outputnhững ứng dụng lớn hơn bằng cách liên kết nhiều server tương tác thông qua HippoNet, trong đó xử dụng công nghệ LAN tiêu chuẩn cho phép nhiều server và máy tính điều khiển giao tiếp và chia sẻ nhiều yếu tố để tạo ra mạng lưới kiểm soát nhiều máy. Hệ thống Hippotizer V3 tạo ra nhiều khối xây dựng được gọi là thành phần-component”, đặc biệt dành riêng để điều khiển màn hình, xuất video đến màn hình, và audio đến DMX.

V4 Media Server

Catalyst tinh chỉnh,phiên bản ban đầu của họ để sản xuất ra V4 Media Server và phần mềm, hỗ trợ điều khiển phần cứng Mackie và những thiết bị MIDI khác bao gồm Behringer BCF200 và keyboard MIDI. Đây là phiên bản đầu tiên của Catalyst cung cấp kiểm soát thay thế, nhưng DMX vẫn còn vua cai trị kiểm soát ánh sáng ca nhạc. Phiên bản Pro của Catalyst có 6 mix output trên màn hình và 12 lớp chỉ định độc lập. Nhiều mix trên màn hình có nghĩa là người khai thác chương trình có thể phá vỡ thiết kế thiết lập của họ và chạy nhiều hiệu ứng khác nhau trên nhiều thiết bị LED, điều khiển đèn LED tường hay máy chiếu cùng lúc. Catalyst đã bị ngưng từ khi High End và công ty sáp nhập vào Barco, nhưng tại thời điểm viết bài này, mô hình Catalyst V.4 và trước đó vẫn được xử dụng rộng rãi trong những chương trình ca nhạc.

Pandora’s Box

Media Server Pandora 's Box đã tăng trưởng sản phẩm Media Server Pro, video Media Server STD 8, và Media Server LT 4. Mỗi sản phẩm đều bổ sung thêm nhiều tính năng hơn so với trước, tăng số lượng video, lớp đồ họa, và mảng dự phòng của những đĩa độc lập (redundant arrays of independent disks - RAID) lên đến 500 GB trong HDD.

Bạn có thể thấy, đèn digitalmedia server khá phức tạp,tốn kém hơn mức trí tưởng tượng của bạn cho phép. Để tạo và sản xuất ra những hình ảnh phức tạp trên một quy mô nhỏ, media server là một công cụ có khả năng mở rộng ánh sáng trực quan cho ca nhạc, có thể yên tâm phát triển sản phẩm theo cấp số nhân.

Nội dung

Xây dựng chương trình bằng cách xử dụng media server đòi hỏi phải có nội dung. Một trong những tính năng mạnh mẽ nhất của media server là khả năng kết hợp và sửa đổi nội dung bằng nhiều cách khác nhau. Điều này cho phép người dùng chỉ xử dụng nội dung dự trữ để làm như vậy một cách độc đáo, chẳng hạn như tham gia một hình tĩnh và thao tác hiệu ứng, kết cấu hay màu chuyển động tự động.

Những hãng sản xuất media server khác nhau xử dụng nhiều phương pháp để cung cấp nội dung, và một tính năng quan trọng là thư viện video clip duy nhất cho mỗi server. Nói chung, nó là một máy cung cấp nội dung, chẳng hạn như Artbeats hay Digital Juice giấy phép phim ngắn lập lại QuickTime cho tất cả mọi cái từ góc nhìn trên cao của thành phố New York bằng trực thăng,từ cá nhiệt đới bơi qua đại dương trong vắt, thời tiết dữ dội hay thiên nhiênêm đềm. Việc cấp phép trong thời gian rất dài, thí dụ, cho cuộc đời của tất cả DL.2  sẽ được phép dùng chọn vài clip đã cấp lượng giấy phép lớn cho thiết bịnày. Green Hippo cho phép người dùng lựa chọn DVD nội dung phù hợp nhu cầucho show của họ. Một khi nội dung được mua hay được cấp giấy phép cho media server cho thuê từ một công ty như PRG, nội dung được miễn phí tiền bản quyền xử dụng trong bất kỳ hình thức live nào trên toàn thế giới, ngay cả chương trình phát sóng mà nó có thể xuất hiện.

Xử dụng những nội dung trách nhiệm cá nhân ​​của người xử dụng và người cung cấp, mặc dù có nhiều cách ngăn cản nội dung tuỳ chỉnh trong show của người khác như một media server di chuyển đến những tour lưu diễn khác. Mark Hunt, Electronics and Software Engineer, PRG ở Birmingham, Anh, giải thích hai cách công ty đang giải quyết vấn đề tiềm năng vi phạm giấy phép. "Tất cả nội dung đều mã hóa và chỉ có thể được chơi trên một MBox chính hãng có bản quyền. Chúng tôi làm mã hóa có sẵn cho những khách hàng của chúng tôi, để họ có thể bảo vệ nội dung của họ trong cùng một cách. Điều này bảo vệ chống trộm cắp thông thường từ một thiết bị tự động, và nó giữ nội dung của chúng tôi khỏi mất mát. Tất cả media server của chúng tôi được 'tháo sạch' khi cho thuê, do đó, chúng tôi không sợ rủi ro cho nội dung tuỳ chỉnh của một khách hàng vô tình. "Tất cả người thiết kế ánh sáng sẽ có quyền truy cập vào cùng một media server hay những công cụ ánh sáng digital. Lựa chọn nội dung và đặt thời điểm sẽ khác biệt chính giữa show này và show khác.

 

Hết chương 17

 

Last Updated on Monday, 23 February 2015 17:30  

Add comment


GIÁO TRÌNH

CATALOG SCAN

Ai đang truy cập

We have 58 guests online
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay303
mod_vvisit_counterHôm qua384

Comment mới nhất

  • tanngoclighting 17.10.2014 00:33
    Ngoài ra, tuỳ thuộc theo từng hãng sản ...

    Read more...

     
  • tanngoclighting 17.10.2014 00:26
    Sorry Khi đọc về cấu tạo đèn Fresnel (hình ...

    Read more...

     
  • tanngoclighting 17.10.2014 00:14  
  • huonggiangcbe 11.10.2014 19:20
    Cháu đã gửi mail đăng ký một quyển ...

    Read more...

     
  • huonggiangcbe 24.08.2014 17:51
    e muon mua mot quyen GIAO TRINH AM THANH ...

    Read more...