Sound&Lightingvn Documents

Hoàn thiện hơn nghệ thuật nghe nhìn...

  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size

Ánh sáng Ca nhạc & chương 16

 

CHƯƠNG 16

Thiết bị LED

LED units

 

 

Khám phá mới nhất về lĩnh vực ánh sáng ca nhạc là diode phát sáng (light-emitting diode) (LED). Một số người cho rằng đó tiến bộ trong công nghệ bóng đèn trong vòng 100 năm qua. Có thể truy lịch sử trở lại năm 1907,có người nghiên cứu tên là HJ Round, làm việc cho Marconi Lab,đã nhận thấy hiện tượng điện phát sáng (electroluminescence) tạo ra từ​​ tinh thể silicon carbide khi áp điện vào nó. Một người Nga độc lập đã tạo ra LED đầu tiên giữa những năm 1920, nhưng phát hiện đó đã bị bỏ qua ở Hoa Kỳ và Anh.

Tường trình đầu tiên về quang phổ LED đỏ được công bố vào năm 1962 bởi Nick Holonyak, Jr, một người nghiên cứu tại General Electric. Holonyak được coi là cha đẻ của diode phát sáng. Sau đó ông ta chuyển đến trường Đại học Illinois tại Urbana - Champaign, nơi một cựu sinh viên đã đưa ra LED vàng đầu tiên, và sáng gấp 10 lần LED màu đỏ và đỏ-cam vào năm 1972.

 

Hình 16.01:

LED RGB

                                           

Để lấp đầy quang phổ màu, Shuji Nakamura, làm việc tại Nhật cho Tổng công ty Nichia, sản xuất ra LED xanh độ sáng cao đầu tiên. Sau đó, ông chuyển đến Đại học California tại Santa Barbara vào năm 1999 và đã được trao giải thưởng Công nghệ Thiên niên kỷ 2006 cho phát minh của mình (hình 16.1), nhưng nó lại rơi xuống Isamu Akasaki và Hiroshi Amano vào cuối những năm 1980 và 1990 đã làm LED trắng phổ biến rộng rãi. Cái gọi là LED trắng thật ra chỉsự kết hợp giữa LED vàng và xanh.

Ứng dụng thật tế đầu tiên của công nghệ này đã xử dụng LED đỏ làm bảng chỉ thị trên TV, radio, điện thoại, thiết bị kiểm tra, và đồng hồ đo. Khi công nghệ tiên triển, sản lượng ánh sáng đã tăng lên đến điểm có thể dùng để chiếu sáng. Đèn LED hiện đại phổ biến nhất là loại 5-mm T1-3/4 và 3-mm T1. Với công suất cao, nó cần thiết để kiểm soát nhiệt dư thừa cho mục đích độ tin cậy. Hiện đại tân tiến nhất, LED công suất cao không giống với LED trước đây chút nào.

CÔNG NGHLED

Gần như chắc chắn, lĩnh vực khoa học mới và hấp dẫn này đã xâm nhập vào lĩnh vực ánh sáng ca nhạc già nua, và không có đường quay trở lại. Rất nhanh, nhiều hãng sản xuất tường và đèn LED đã bước vào thị trường giải trí, thậm chí còn nhanh hơn sự ra đời của moving light. Chúng ta có thể giải thích điều này ra sao? Tôi sẽ yêu cầu bạn quay trở lại ấn bản đầu tiên và thứ hai của cuốn sách này, tôi đã thấy, những tiến bộ lớn tiếp theo sẽ là từ nguồn ánh sáng.  Đèn LED hoàn toàn đáp ứng lời tiên tri đó. Bây giờ vấn đề là chúng ta không chỉ đối phó với sự tiến bộ với loại bóng đèn, console ánh sáng phức tạp hơn, hay cấu trúc giàn khung tốt hơn. Tất cả chúng ta phải học từ đầu một ngôn ngữ kỹ thuật hoàn toàn mới, ngoài ra, chúng ta còn phải có tầm nhìn để xử dụng những sản phẩm bị xuất kho nhanh hơn so với bất kỳ thiết kế ánh sáng nào có thể hy vọng theo kịp . Tất cả những cáingười đọc, cũng như tác giả có thể làm, là bắt đầu tiêu hóa thuật ngữ mới này và hy vọng sẽ theo kịp. Những chương sau đây khá chán, tôi biết, do những thuật ngữ mới: tiêu thụ điện năng, phương pháp đo lường ánh sáng ... danh sách còn nhiều nữa. Vì vậy, tôi sẽ bắt đầu với một mô tả đơn giản tôi có thể.

Hãy trở lại lý thuyết một chút. Diode là gì? Diode là một thiết bị điện cho phép dòng điện di chuyển qua nó theo một hướng dễ hơn nhiều so với hướng khác. Loại diode phổ biến nhất trong thiết kế mạch hiện đại là diode bán dẫn (semiconductor). Thuật ngữ "diode" thông thường để chỉ riêng những thiết bị tín hiệu nhỏ. Một bộ chỉnh lưu (rectifier) (như điều khiển chỉnh lưu silicon, hay SCR) cũng là một diode dùng cho thiết bị điện (Hình 16.2). Chúng ta nên lảm quen hai loại diode: Triac và SCR, cả hai đều được xử dụng để điều khiển tín hiệu cho dimmers điện tử hiện đại. Vì vậy, việc dùng diode khác để làm electroluminescence (phát sáng) một bóng đèn có vẻ khá hợp lý.

 

Hình 16.02:

Thành phần của LED

                                         

Không làm bạn nhàm chán với chuyên luận về tính chất điện của diode, sự kiện , với những đặc tính của luồng điện qua diode, có thể xảy ra phát sáng. Bước sóng có thể thấy ánh sáng (màu) phụ thuộc vào năng lượng dải hở (bandgap) của vật liệu tạo thành tiếp giáp p-n. diode bình thường, năng lượng bandgap này không bức xạ và không tạo ra phát sáng. Vật liệu dùng để tạo ra LED có một bandgap trực tiếp năng lượng tương ứng với gần tia hồng ngoại, thấy được,gần tia tử ngoại. (Ở đây, tác giả muốn nói bước sóng nằm trong phổ màu thấy được, nằm giữa hai cực là màu đỏ (hồng) và tím (tử), ngoài hai cực này thuộc loại ánh sáng không thề thấy bằng mắt - ND).

Một vấn đề nữa là tia sáng bị khúc xạ lại vào chất bán dẫn, nơi nó có thể bị hấp thụ và chuyển thành nhiệt bổ sung. Đây là một nguyên nhân chính làm LED kém hiệu quả, có thể bị mất hơn một nửa ánh sáng. Cách giảm thiểu vấn đề này phổ biến nhất xử dụng nắp hình vòm trong suốt để tia sáng chiếu vuông góc với bề mặt, do đó giảm thiểu phản chiếu. Vài hãng sản xuất xử dụng lớp phủ chống phản chiếu. Có thể phau trên vài lớp phủ này, tuy nhiên, điều này chỉ cho mục đích thẩm mỹ và không ảnh hưởng đến màu ánh sáng phát ra.

HIU QU

Một trong những lợi thế chủ yếu của ánh sáng LED là nó có thể có hiệu suất thật cao. Tuy nhiên, ánh sáng đèn LED không thể đo trên đồng hồ ánh sáng bình thường dùng cho bóng đốt tim và Mercury (Hg) medium-arc iodide (HMI). Từ quan điểm kỹ thuật, LED trắng phù hợp hay vượt quá hiệu quả của bóng đèn đốt tim tiêu chuẩn, trên cơ sở cho mỗi watt, nhưng nhiều người vẫn đặt câu hỏi về chất lượng màu sắc thật tế của ánh sáng. Năm 2002, Philips Lumileds sản xuất LED 5-watt có hiệu suất phát sáng từ 18 đến 22 lumens trên mỗi watt (lm/W) so sánh với đèn đốt tim thông thường là từ 60 đến 100 - watt, cho ra khoảng 15 lm/W. **Những công ty khác đã thực hiện thông báo yêu cầu lumens trên mỗi watt cao hơn và cao hơn nữa. Nichia Corporation đã phát triển đèn LED trắng có hiệu suất phát sáng là 150 lm/W. Và, tác giả không nghi ngờ, vào thời điểm in cuốn sách này (2010), những biểu số này sẽ công nghệ trượt vài thế hệ.

Trong tháng 12 năm 2007, những khoa học gia tại Đại học Glasgow thông báo họ đã tìm ra cách làm đèn LED hiệu quả hơn là in hằng tỷ lỗ vào LED bằng cách xử dụng tiến trình gọi là nanoimprint lithography. ***

Không như bóng đèn đốt tim, không cần phải phân cực, LED chỉ phát quang nếu đúng phân cực điện. Khi điện áp trên mối nối p - n chạy theo hướng thích hợp, sẽ có dòng điện đáng kể và thiết bị được gọiforward biased. LED có thể vận hành trên dòng một chiều (DC), hay xoay chiều (AC), nhưng chỉ phát sáng khi điện áp dương, làm cho LED bị tắt mởđúng tần số của nguồn cung cấp AC.

Mặc dù đèn LED có tuổi thọ tương đối dài, một số ở mức 30.000 đến 50.000 giờ, có ít nhất cả chục cách làm rút ngắn tuổi thọ này, hay làm hư hỏng hoàn toàn, bao gồm ứng suất nhiệt. Những hãng sản xuất đang tìm cách tiêu tan nhiệt từ diode để kiếm cách nào hiệu quả hơn.

** "Seoul Semiconductor đã ép 240 lumens vào LED sáng nhất’”, ngày 21 tháng 12 năm 2006.

*** "Một loại bóng đèn dân dụng siêu hiệu quả đang phát triển có thể là hồi chuông báo tử cho loại bóng đèn thông thường". BBC News, 28 tháng 12 năm 2007.

 

MÀU SC VÀ RGB

LED thông thường được làm từ một số vật liệu bán dẫn vô cơ. Bảng 16.3 cho thấy màu và bước sóng của 11 màu phổ biến nhất hiện nay. Lưu ý, cũng bao gồm cả bên ngoài màu đỏ và tím của quang phổ thấy được. Có hể cho ra ánh sáng trắng bằng cách pha trộn nhiều ánh sáng màu khác nhau. Phương pháp phổ biến nhất là kết hợp màu đỏ, lục, và xanh, tuy nhiên, phương pháp này rất phức tạp và liên quan đến thiết kế điện-quang (electro-optical) để kiểm soát việc pha trộn và khuếch tán nhiều màu. Về nguyên tắc, cơ chế sản xuất ánh sáng trắng này có hiệu quả cao hơn.

Có nhiều loại LED trắng khác nhau: LED trắng di-, tri-, và tetrachromatic. Yếu tố quan trọng cần xem xét là màu ổn định, khả năng rendering (tách, phủ màu), và hiệu quả chiếu sáng. Thường xuyên, hiệu quả cao hơn có nghĩa là rendering chất lượng thấp hơn. Thí dụ, LED trắng dichromatic có hiệu quả chiếu sáng tốt nhất (120 lm/W) nhưng khả năng rendering thấp nhất. LED trắng tetrachromatic có rendering tuyệt vời, nhưng thường có hiệu quả ánh sáng kém. LED trắng trichromatic sự cân bằng giữa hai: ánh sáng hiệu quả và rendering tốt.

 

Hồng ngoại - Infrared                                       λ > 760

Đỏ - Red                                                610 < λ < 760

Cam - Orange                                        590 < λ < 610

Vàng - Yellow                                         570 < λ < 590

Lục - Green                                            500 < λ < 570

Xanh - Blue                                            450 < λ < 500

Tía - Purple                                                 Nhiều loại

Tím - Violet                                            400 < λ < 450

Cực Tím - Ultraviolet                                       λ < 400

Trắng - White                               Quang phổ rất rộng

 

Bảng 16.03: Quang phổ của LED .

Chúng ta phải xác định ánh sáng "trắng". Qui định ánh sáng thông thường trong ánh sáng giải trí, nhiệt độ màu, xác định bằng tỷ lệ Kelvin, thường mô tả đèn dân dụng là 3000K, đèn sân khấu và phim 3200K, và ánh sáng ngoài trời 5600K. Vấn đề là hãng sản xuất LED gọi "ánh sáng trắng" thật sự là 3000K hay 4700K? Tùy thuộc vào ứng dụng của bạn, điều này có thể là một trở ngại cho việc xử dụng đèn LED trắng cụ thể.

Xử dụng phosphor nhiều màu để tạo ra đèn LED trắng, được gọi là đèn LED trắng phosphor-based. Tùy thuộc vào màu đèn LED ban đầu, đã dùng phosphor màu nào và kết quả mở rộng quang phổ. Điều này làm tăng giá trị của đèn LED, đặc biệt chỉ số rendering (CRI), tuy nhiên, bạn phải đánh đổi điều này với việc sẽ bị hiệu quả thấp. Hiện nay, nó vẫn là phương pháp sản xuất đèn LED trắng cường độ cao phổ biến nhất.

Phương pháp sản xuất đèn LED trắng mới nhất không xử dụng chút phosphor nào. Nó liên quan đến việc kết hợp ánh sáng xanh từ khu vực hoạt động với ánh sáng vàng làm nền.

Một cách tạo ra ánh sáng trắng đơn giản hơn là kết hợp những LED riêng biệt màu đỏ, lục, xanh, và đôi khi thêm màu trắng, thành những gói cho phép người thiết kế kiểm soát từng màu riêng lẻ và do đó đạt được màu "trắng" ưng ý.

ORGANIC LIGHT-EMITTING DIODES (OLED)

Đền lúc chúng ta nghĩ phải hiểu đèn LED vô cơ, rồi đến LED hữu cơ. Vật liệu phát sáng có thể là phân tử hữu cơ nhỏ trong giai đoạn kết tinh hay vật liệu polymer linh hoạt. Những diode này gọi là LED polymer (PLED) hay LED flash (FLED). Lợi ích của sự linh hoạt làm cho hữu ích trong việc hiển thị hình ảnh cho thiết bị điện tử cầm tay như điện thoại di động, máy chụp kỹ thuật số, và máy nghe nhạc MP3. Ngày nay, không hiệu quả vì chỉ có tuổi thọ là 1000-giờ. Điều này quá ngắn cho mục đích của chúng ta, nhưng nào ai biết cái gì sẽ đến vào ngày mai.

QUANTUM DOT LED (LED chấm lượng tử)

Một kỹ thuật mới, phát triển bởi Michael Bowers, một nghiên cứu sinh tại Đại học Vanderbilt ở Nashville, liên quan đến phủ một lớp màu xanh trên LED bằng những chấm lượng tử (Quantum Dot) có thể phát sáng trắng để đáp ứng với ánh sáng màu xanh từ LED. Kỹ thuật này tạo ra một loại ánh sáng ấm áp, ánh sáng  trắng vàng nhạt tương tự như bóng đèn đốt tim.*** Quantum Dot là những tinh thể nano bán dẫn có đặc tính quang học độc đáo. Màu phát sáng của có thể điều chỉnh từ quang phổ có thể nhìn thấy sang hồng ngoại. Điều này cho phép tạo ra bất kỳ màu nào gần như trên sơ đồ CIE. Điều này cho nhiều lựa chọn màu và rendering màu tốt hơn LED trắng. LED Quantum Dot có nhiều loại cùng một gói như LED truyền thống dựa trên phosphor.

*** "LED Quantum Dot có thể là lựa chọn màn hình điện tử trong tương lai". Viện Công nghệ Massachusetts MIT năm 2002.

High-Power LED (HPLED) (LED công suất cao)

LED công suất cao (HPLED) (hình 16.4) có thể tiêu thụ hàng trăm milliamps, một số  cường độ hơn 1 ampere, và cho ra lượng ánh sáng lớn. HPLED phải hiệu quả cao để giảm thiểu nhiệt dư thừa và thường được gắn trên bộ tản nhiệt. HPLED duy nhất có thể thay thế bóng đèn đốt tim trong một flashlight hay đặt thành mảng để tạo thành đèn LED thật mạnh. LED đã được phát triển để hoạt động trên nguồn AC mà không cần công cụ chuyển đổi DC. Tính đến năm 2009, một số HPLED sản xuất bởi Cree, Inc, vượt quá 95 lm/W.

Hình 16.04: LED công suất cao

Nguồn cấp điện

Đặc tính điện áp/cường độ của LED cũng giống như diode bất kỳ nào, do đó, khi điện áp thay đổi nhỏ sẽ làm cường độ thay đổi lớn. Hầu hết LED không thể nối trực tiếp vào nguồn điện áp không đổi. Một vài điện trở là cách rất đơn giản và phổ biến để ổn định cường độ cho LED nhưng lạimất năng lượng trong điện trở. LED thường được đốt bằng điện DC điện áp thấp. Cường độ 2mA, 10mA, và 20mA là phổ biến. Hoạt động trên sóng vuông và nguồn sóng sine sửa đổi làm cho CR (tụ điện và điện trở) điện trở tăng rất nhiều và chấn lưu (ballast) cho LED được thiết kế để dùng sóng sine, có khuynh hướng đốt cháy dạng sóng không phải sine. Dạng sóng không sine cũng làm  LED  có cường độ đỉnh cao, dẫn đến tuổi thọ LED bị rút ngắn. Một cuộn cảm và chỉnh lưu phù hợp cho việc xử dụng như vậy hơn, và những tùy chọn khác cũng vậy. Mạch tích hợp chuyên dụng có sẵn cung cấp nguồn tối ưu cho LED và hiệu quả tổng thể tối đa.

Ưu điểm của đèn LED

■ Hiệu quả - LED sản xuất ánh sáng nhiều hơn trên mỗi watt hơn so với bóng đèn đốt tim.

■ Màu - LED có thể phát ra ánh sáng một màu dự định mà không có cần bộ lọc màu như những phương pháp ánh sáng truyền thống yêu cầu.

■ Kích cỡ - LED có thể rất nhỏ và có thể gắn vào mạch in dễ dàng.

Thời gian tắt mở- ánh sáng đèn LED rất nhanh, thường tính bằng micro giây.

Chu kỳ - LED rất lý tưởng để dùng trong ứng dụng đòi hỏi có chu kỳ tắt mở  thường xuyên.

■ Dimming - đèn LED có thể dim khá dễ bằng cách điều chế độ rộng xung hay giảm cường độ phía trước.

Lạnh -  ánh sáng LED tỏa nhiệt rất ít, trong dạng hồng ngoại có thể gây thiệt hại cho những đối tượng nhạy cảm hay nhiều loại vải.

Tuổi thọ - LED có thể có tuổi thọ tương đối cao. báo cáo ước tính 35.000 đến 50.000giờ.

■ Chịu va chạm - LED có những thành phần trạng thái rắn, khó bị thiệt hại vì va chạm bên ngoài.

■ Tập trung, focus - Thân LED cứng chắc, có thể thiết kế để tập trung ánh sáng. Những nguồn khác thường đòi hỏi chóa phản chiếu bên ngoài.

Khuyết điểm của đèn LED

■ Giá cao - LED hiện mắc hơn rất nhiều trên cơ sở mỗi lumen.

Phụ thuộc Nhiệt độ - hiệu suất LED phụ thuộc phần lớn vào nhiệt độ môi trường hoạt động.

Nhạy cảm với điện áp - LED phải được cung cấp điện áp trên ngưỡng và cường độ  dưới mức chịu đựng.

Chất lượng ánh sáng - Hầu hết LED trắng đều có quang phổ khác đáng kể so với bức xạ đen như mặt trời hay ánh sáng đèn đốt tim.

■ Khu vực nguồn ánh sáng - LED không phải loại ánh sáng "nguồn điểm" mà là sự phân phối Lambertian (được định nghĩa là tổng phản chiếu tất cả hướng).

Nguồn ánh sáng mới.

Nghiên cứu và thiết kế (Research and design - R & D), những nỗ lực không đi theo một hướng. Có nghe nói đến nguồn ánh sáng plasma. Bài viết công bố bóng đèn microwave từ một công ty gọi là Ceravision ở Anh tuyên bố phát hiện của họ hoạt động bằng cách xử dụng năng lượng microwave tập trung vào một ống thủy tinh trong suốt nhỏ có chứa khí trơ áp suất thấp. Việc này ion hóa những phân tử khí trơ để hình thành khí plasma trong ống thủy tinh. Điều chỉnh sản lượng điện được bằng cách dao động năng lượng microwave. Công ty này tuyên bố nó có thiết kế lên đến 5 kW, hiệu quả 100 lumen trên mỗi watt.

Chúng ta đã có LED, nhưng LEC thì ra sao? Tụ điện phát sáng (lightemitting capacitor - LEC) gần như là giấy mỏng. Người phát triển, CeeLite, nói nó là "bóng đèn mỏng nhẹ". “Biến tần ép trong bảng độ dày bằng giấy in 110-lb, vì thế nó có thể uốn cong được. Màu chỉ trong khoảng 7000 Kelvin. Nó là một sản phẩm coi trực tiếp, nhưng công ty hiện đang tìm người thiết kế để xem xét có thể áp dụng những sản phẩm công nghệ này được cho cái gì không.

Điểm rõ ràng chúng ta chưa hết cách phát triển LED, và thị trường sẽ không trì trệ để nói đủ là đủ rồi. Đây là một công việc rất sáng tạo, và phải tiếp tục tìm kiếm cái gì sẽ đưa chúng ta đến gần thiết kế của mình nhất.

Ứng dụng Công nghệ LED vào Giải trí

Khi LED Nichia xanh độ sáng cao nổi bật lên như một nguồn hữu hiệu nhất, ngành công nghiệp giải trí đã nhảy vào, kết hợp màu đỏ, lục, và xanh (RGB) cho những ứng dụng mới. Bắt đầu xuất hiện sản phẩm thương mại vào giữa thập niên 1990. Một trong những lợi thế mà đèn LED có trong việc này là hoạt động rất tốt như là màu cơ bản, nhưng không được như vậy  cho ánh sáng màu nhạt hay trắng. Mike Wood nói: "Có một luật trích dẫn liên quan đến độ sáng của LED được gọi là luật Haitz. Luật này dự báo c mỗi 10 năm, lượng ánh sáng do LED tạo ra tăng lên hệ số 20, trong khi chi phí cho mỗi lumen (đơn vị ánh sáng hữu ích phát ra) giảm hệ số 10. Đây là những đồ thị khá dốc, nhưng, cho đến nay, không chỉ có những dự báo này nhưng ... chính phủ đã bơm nhiều kinh phí cho việc R & D, có thể nó đã thật sự vượt quá hiệu quả tìm cách tiết kiệm năng lượng”. (xem hình 16.6).

 

Hình 16.06: Hình dạng LED

Wood nói tiếp, giải trí là thị trường rất, rất nhỏ trong cuộc đua này, nhưng như chúng ta thường có, chúng ta được hưởng rất nhiều từ R & D, thực hiện bởi những người khác. "Ánh sáng Giải trí, chúng ta luôn muốn những món đồ chơi mới nhất để chơi và sẵn sàng chịu đựng sự bực dọc khi dùng nó hơn những lĩnh vực khác", ông ta nói thêm.

Sự quan tâm đầu trong đèn LED là chúng ta có thể kết hợp với màu đỏ, lục, và xanh (đôi khi màu hổ phách), và bằng cách kiểm soát mỗi LED chúng ta đã kiểm soát một giải màu gần như không giới hạn. Oh, lúc đầu đã bị một số bị "picking" như đèn chuyển sang nhấp nháy, và trong sản phẩm rẻ tiền vẫn xảy ra điều này, nhưng cho rock & roll thì tuyệt đối không dễ là danh sách số 1. Bốn loại sản phẩm chung hình như bao gồm phần lớn thị trường: PAR, moving light, tường LED, và đèn wash.

PAR LED

PAR LED có vẻ đơn giản nhất trong họ này, chỉ đơn giản là lấy PAR dân dụng, bó gọn kích thước đèn LED trong ba hay bốn màu, cung cấp cho nó DMX và nguồn AC, và bạn có thể thay thế tất cả mẫu PAR ... gần như thôi. Vấn đề là đèn LED không tập trung (focus) rất tốt, luồng mờ nhạt. Có đấy, với màn khói bạn có thể nhìn thấy luồng, nhưng vẫn còn tranh luận về việc phải đánh đổi bao nhiêu giữa khả năng có tất cả tiềm năng màu và giảm mật độ. Vì vậy, yêu cầu một số quyết định như thiết kế có thể mất vị trí rất hẹp (VNSP) hay luồng AC chặt chẽ nhìn như trống rỗng ở giữa (Hình 16.7). Một vài thiết bị có tính năng strobe (nhấp nháy) cũng như một gói on-board hiệu quả lập trình sẵn như chasesequence màu. Dĩ nhiên, chúng ta không nên bỏ qua lợi thế về công suất. PAR 64-bình thường tiêu thụ 1000 watt ở 120 volt. Hầu hết thiết bị  LED kích thước PAR -64 tiêu thụ 95 đến 100 watt. Trong show lưu diễn "xanh-green", đó có thể là một yếu tố.

Hình 16.07: PAR LED 64

Đèn Wash

Trong thể loại này là bộ đèn wash nhỏ, chẳng hạn như đèn LED wash gọi là Color Blast series, đó là một trong thiết bị LED đầu tiên được xử dụng cho ánh sáng truyền hình (hình 16.8). Nó được tạo thành bởi 72 LED màu đỏ, 72 xanh, và 72 lục và đã nhìn thấy cả hai ứng dụng ánh sáng trực tiếp lẫn bối cảnh. Là đèn wall-wash (wash chiếu tường), nó được yêu thích cho những ứng dụng về kiến ​​trúc, cũng như làm bối cảnh cho truyền hình và ca nhạc. Nói chung,có rất nhiều lựa chọn trong thiết kế này, bao gồm vài thiết bị cực tím. Khi xem xét đèn washcho bối cảnh, có hai cách để tiến hành với loại đèn LED. Ít nhất một trong những công ty, Altman Stage Lighting, đã xử dụng one-cell cyclight truyền thống bằng cách dùng LED RGB và amber (hổ phách). Những hãng khác đang sản xuất thiết bị dài 3 - 4-feet giống hệt thiết bị striplights cũ. Color Kinetics cung cấp một số phiên bản, xử dụng 12 mạch 18 đèn LED cường độ cao trên mỗi board mạch (hình 16.9), đã buộc phải giải nhiệt không khí, và tiêu thụ 360 watt điện AC.

Hình 16.08: Color Blast 12

Dĩ nhiên, bất kỳ gói đèn nào, cung cấp bởi hầu hết hãng sản xuất sẽ trên cơ sở tùy chỉnh, vì, như tôi đã nói, một khi gói LED được thiết kế chiếu sáng trong nhà ở là một vấn đề thứ yếu. Đèn LED không trả lời câu hỏi cho nguồn ánh sáng giải trí sáng tạo nhất của chúng ta ngày nay, nhưng ai biết được ngày mai sẽ ra sao. Lời giải thích của Andi Watson về tour Radiohead, nơi tất cả ánh sáng đều dựa vào LED, vì nhóm này tin tưởng vào môi trường trong sạch và muốn cắt giảm khí carbon, đã chứng minh nhiều cách sáng tạo để xử dụng công nghệ mới này (xem Chương 23). Những nhóm khác cũng đang làm cùng một mức độ nào đó, tuy nhiên, tôi phải xác định lại một điều. Điều này là mới, công cụ công nghệ cao,... và do đó không hề rẻ! Có những cân nhắc về ngân sách mà hiện nay, ngay cả những nghệ sĩ lớn nhất cũng có thể khó nuốt. Tuy nhiên, có lẽ sự phát triển trong tương lai sẽ thổi mềm tài chính và đèn LED có thể phát triển đến một gói tiết kiệm cho việc giải trí.

Hình 16.09: ColorBlaze 72

Moving Light

Trên thật tế, moving lightPAR không khác nhau nhiều. Bạn thay thế đèn shortarc bằng một bó đèn LED, có thể HPLED, có quạt giải nhiệt những cụm. Thêm khả năng lập trình thậm chí còn phức tạp hơn, như đèn SHOWPIX (hình 16.11), và bạn đã nâng trò chơi của bạn lên vài bậc. Bây giờ bạn có khả năng pan và tilt, cũng như khả năng để làm gobo trong chính đèn LED. Nhiều hãng sản xuất đã tăng cường quảng cáo bằng cách đặt đèn LED trong những sản phẩm hiện có của họ và làm bất cứ thay đổi gì nếu yêu cầu. đã có công nghệ DMX, và nó lưu lại từ bánh xe gobo xoay, màn trập strobe, và cơ chế zoom, cho chi phí cao của bó LED. Ngoài ra còn có một nhóm sản phẩm thiết kế để xử dụng như wash, nhưng vẫn còn tính năng pan và tilt (Hình 16.12) và nhìn bên ngoài giống như bất kỳ moving light nào khác.

Hình 16.11: SHOWPIX.

LED Tường (Wall)

Một trong những ứng dụng tốt nhất của đèn LED xử dụng như chiếu sáng bề mặt. LED tường trong bảng được kết nối với nhau, chẳng hạn như thiết kế bảng bởi Element Labs hiển thị trong hình 16.14, có thể được lắp ráp tới 18 - 24 feet, và bạn vẫn có thể nhìn xuyên qua nó. Element Labs cũng sản xuất thiết bị loại ô vuông (Hình 16.15), không thể nhìn xuyên qua nhưng tuyệt vời cho việc cài đặt trên tường hay màn hình. Vài công ty thực hiện hệ thống cơ bản là những mảng 3-foot vuông cuộn lại được, có thể nối với nhau. Trong trường hợp Chroma-Q Color Web, có thể đặt LED ba màu cách khoảng 5 hay 10-inch trên mảng đó (hình 16.16). Áp dụng chung cuối cùng là phiên bản ống, thể hiện trong hình 16.17, thực hiện bởi Element Labs, đây là những ống đơn ba độ dài (khoảng 20, 40, và 79 inch) và hai mật độ (16 hay 36 điểm ảnh (pixel) trên mét ).

 

Hình 16.12: Legend 6500.

Hình 16.14: Màn hình STEALTH.

Có nhiều ý tưởng biến thể, và cần kiểm tra hoàn toàn để xác định nhu cầu của bạn sẽ phù hợp  với cái gì, về cấu trúc, mật độ điểm ảnh, và kích thước. Chắc chắn một trong những ưu điểm lớn nhất là sẽ loại bỏ máy chiếu đắt tiền, vấn đề là kiếm chỗ treo để nó không che mắt khán giả. Một lợi thế khác là hầu hết đều nhìn xuyên qua được,vì thế khán giả ở hai bên và phía sau vẫn có thể xem buổi biểu diễn.

 

Hình 16.15: Mảng Versa.

Hình 16.16: Chroma-Q Color Web 125 và 250 LED.

Hình 16.17: Ống Versa.

 

Hết chương 16

Last Updated on Monday, 23 February 2015 16:54  

Add comment


GIÁO TRÌNH

CATALOG SCAN

Ai đang truy cập

We have 9 guests online
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay253
mod_vvisit_counterHôm qua384

Comment mới nhất

  • tanngoclighting 17.10.2014 00:33
    Ngoài ra, tuỳ thuộc theo từng hãng sản ...

    Read more...

     
  • tanngoclighting 17.10.2014 00:26
    Sorry Khi đọc về cấu tạo đèn Fresnel (hình ...

    Read more...

     
  • tanngoclighting 17.10.2014 00:14  
  • huonggiangcbe 11.10.2014 19:20
    Cháu đã gửi mail đăng ký một quyển ...

    Read more...

     
  • huonggiangcbe 24.08.2014 17:51
    e muon mua mot quyen GIAO TRINH AM THANH ...

    Read more...