Sound&Lightingvn Documents

Hoàn thiện hơn nghệ thuật nghe nhìn...

  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size

Ánh sáng Ca nhạc & Chương 15

CHƯƠNG 15

Moving Light (Luminaire)

 

 

Việc đổi mới triệt để nhất trong ánh sáng trong hơn bốn thập kỷ qua là - đèn điều khiển từ xa, đèn do máy tính điều khiển, đèn thông minh, đèn lắc lư, đèn động lực, bất cứ tên gì bạn chọn để gọi . Việc giới thiệu Vari*Lite vào tháng Chín năm 1981 bởi Showco, Inc, một công ty chuyên tổ chức ánh sáng ca nhạc từ Dallas, làm kinh ngạc cộng đồng ca nhạc, không chỉ vì chất lượng sáng tạo của sản phẩm mà vì họ không là hãng sản xuất đang muốn bán sản phẩm.

Tại sao những người khổng lồ vềthế giới ánh sáng có thể bỏ lỡ ý tưởng này? Trên thật tế, đèn điều khiển từ xa đã hiện diện khá lâu trước đây. Từ chuyến đi khắp thế giới - đặc biệt, tôi thấy ở hãng phim truyền hình NKH của Nhật Bản và BBC ở London vào đầu năm 1970, cũng như những báo cáo Đức - Tôi đã nhận thức được động cơ xử dụng trước đây cho loại đèn này. Tuy nhiên, họ chỉ chỉ nghĩ ra việc thêm pan và tilt vào thiết bị, không phải là thiết kế hoàn toàn mới với RGB, CYM, hay thay đổi màu lưỡng sắc. Vì vậy, những cái vừa giới thiệu đã đi vào lịch sử? cách giải thích, cộng đồng thành lập ánh sáng coi nó như là một hiệu ứng của rock & roll và không hình dung tiềm năng của nó cho sân khấu và truyền hình. Đây không phải lần đầu trào lưu đón nhận khái niệm này chậm hơn rock & roll. (Danh sách này khá dài, bao gồm cả PAR 64, giàn khung, multicable, và dimmer lưu động). Một lần nữa, tour ánh sáng đã thực hiện khéo léo một công nghệ sẵn có và cải thiện nó lên gấp mười lần.

Lịch sử đèn moving light

Để lấp đầy vài bối cảnh lịch sử, tôi đã may mắn trò chuyện với Louis Erhart, tốt nghiệp Đại học Yale, đã hỗ trợ McCandles Stanley huyền thoại từ năm 1932 đến 1934. Ông tham gia Century Lighting vào năm 1937. Năm 1941, ông đã giúp thiết lập những hoạt động của nhà máy sản xuất West Coast cho họ, nghỉ hưu khi là phó giám đốc vào năm 1972. Tôi nhờ ông tìm những sự kiện lịch sử về việc lắp đặt nước ngoài, chỉ để nói lên, không thể nào thiếu sự khéo léo của Mỹ. Ông đã sản xuất bản sao theo dữ liệu của đèn Century, bán trên thị trường với tên Featherlight. Đó là kết quả việc liên doanh với Paramount Studios để phát triển đèn điều khiển từ xa thương mại có thể rao bán.

Câu chuyện của đèn đó bắt đầu vào cuối năm 1949, khi chương trình bắt đầu trên phim của Cecil B. DeMille là The Greatest Show on Earth, sau đó phát hành vào năm 1952. Thiết bị đã được điểm cao trong Big Top mà không cần người vận hành. Ông Hissorich được ghi nhận bởi Erhartngười phát triển hãng Paramount. Cuối cùng, liên doanh sản xuất một studio truyền hình hoàn toàn tự động tại New York vào giữa thập niên 1950 (Studio H của NBC). Thật không may, vài người nghĩ rằng nó có thể làm họ thất nghiệp, do đó, họ đã làm mọi cách để phá hoại khái niệm này. Nhưng họ đã không nhận ra, tự động hóa làm tăng năng suất, do đó tăng thời gian xử dụng chương trìnhcần nhiều kỹ thuật viên hơn. Điều này đã được chứng minh trong những studio ở Nhật Bản và London. Đáng buồn thay, dự án Century/Paramount đã bị loại bỏ ngay sau đó. Những người thiết kế đã trích dẫn thiếu sót kỹ thuật trong thiết kế motor, có thể đã được giải quyết nếu họ đã sẵn sàng gắn bó với khái niệm này. Vài thiết bị này tồn tại và hoạt động tốt tại Los Angeles Stage Lighting cho đến khi công ty đóng cửa trong thập niên 1980.

Một công ty Anh cũng đã cung cấp thông tin về một sản phẩm trước đó. Dennis Eynon thành lập Malham Photographic Equipment, Ltd, đầu thập niên 1950. Sau khi gặp William Cremer ở Paris trong thập niên 1960, họ hợp tác trong nhiều dự án, bao gồm Top Rank Bristol Suite (hình 15.01). Họ lắp ráp Mixlight Cremer, chiếu mô hình lên tường ban công và xử dụng kính 45-độ để chiếu mô hình lên sàn, theo James Eynon, con trai Dennis và đồng giám đốc của một công ty gọi là Malham Lighting Design, Ltd tại London. Trích bức thư viết bởi James Eynon vào ngày 7 tháng 8 năm 1995:

Figure 15-01

Hình 15.01:   William Cremer 1960

Mixlight phát triển từ spotlight 1000w, có 2 hệ thống màu treo. Một cái là bánh xe màu thông thường gel màu gắn trên bánh xe nhôm chia đoạn. Cái kia là bánh xe có 4 lưỡi mái chèo với tấm gel đục lỗ, trục xoay dọc trong mặt phẳng tạo góc 90 độ với bánh xe màu thông thường.

Những máy chiếu này cũng có thể chiếu gobos (làm từ kim loại đục lỗ) hay những mẫu kính làm từ kính mẫu tiêu chuẩn. không được điều khiển từ xa nhưng thay đổi liên tục và xử dụng motor đồng bộ AC 240-watt, cung cấp bởi Crouzet của Pháp. Những máy chiếu này trước đây được xử dụng tại triển lãm "FORMES et Lumieres" tại Liege (ủy quyền bởi Phillips).

Cremer có vẻ hơi lập dị. Sau vài năm, ông rời công ty trong tay người thư ký của mình, mua một du thuyền, lái thuyền qua vùng Caribbean, và viết tiểu thuyết. Ông trở lại Paris và mở một nhà hàng cho đến khi tự tử vào năm 1980. Dennis Eynon hiện đang sống ở Ireland.

James Eynon kể lại, sau khi thoát ra ngoài Rank Organisation, Cremer tập trung về thiết kế phòng thu truyền hình cho những thiết bị điều khiển từ xa của ông. Ông đã phát triển một đèn 1000-watt có chảo pan và tilt bằng motor và có thể focus từ xa. Rank Organisation, thuyết phục Cremer bán cho họ thiết bị này, tiếp tục cung cấp cho Top Rank, Bristol Suite, và ít nhất hai phòng khiêu vũ khác.

Đèn phát triển ở Croydon, Anh, đã có sáu chức năng: pan, tilt, focus, iris, shutter blackout, và bánh xe màu. Người ta cho rằng cơ chế iris cung cấp bởi Strand Electric. Những motor từ Crouzel của Pháp và có thể xác định là 240-VAC. Kiểm soát được bằng phương tiện hardwiring qua cable xoắn vào một bảng điều khiển vận hành, trong đó có nhiều switch nhấn tạm thời.

Michael Callihan, trong một bài báo năm 2006 của PLSN, nói ông đã phát hiện ra nhiều phần lịch sử xa hơn: Người thiết kế ánh sáng nổi tiếng Jules Fisher New York hình như được cấp bằng sáng chế một pinspot pan và tilt từ hồi năm 1965. Tuy nhiên, phát hiện thậm chí còn lớn hơn là bằng sáng chế đã trao cho Edmund Sohlberg Kansas City vào năm 1906 (?) cho một đèn follow spot gắn ở balcon, cable chạy tử hậu trường để một nhân viên hậu đài có thể kiểm soát kích thước luồng sánghướng. Khi đó, hầu như không một giải pháp điện tử nào để điều khiển từ xa, nó đã có một bánh xe điều khiển màu, theo bài viết.

Việc phát hiện ra bằng sáng chế cấp cho Tiến sĩ Fritz von Ballmoos ở Thụy Sĩ cho biết nhiều chuyện hơn nữa về đèn tự động. Một vật lý gia, do thương mại, không có kinh nghiệm sân khấu, là Von Ballmoos vào cuộc thi thiết kế với một người bạn. Ông đã nghiên cứu những cái được coi là theo hiện đại vào thời điểm đó và nghĩ ra một hệ thống 200-đèn tự động cho nhà hát. Thiết kế của họ đã thắng và được cài đặt vào đầu năm 1970. Đèn có pan, tilt, và kiểm soát cường độ và có thể đổi màu bằng cách xử dụng hai bánh xe màu. Hệ thống dường như vẫn còn được xử dụng gần 20 năm. Ông cũng được áp dụng và nhận bằng sáng chế ở nửa tá quốc gia, và những bằng sáng chế ban đầu phải xem xét lại 2 cái. Callihan tin rằng các tài liệu này cung cấp tài liệu tốt nhất cho lịch sử đèn ánh sáng, và thiết kế của Tiến sĩ Von Ballmoos có lẽ có ảnh hưởng lớn cho giai đoạn phát triển tiếp theo của moving light hiện đại.

Trong khi đó, tại Mỹ, Showco, công ty ánh sáng ca nhạc và cung cấp thiết bị âm thanh thành công tại Dallas, làm việc để phát triển việc thay đổi màu cho đèn PAR-64. Năm 1980, một nhóm thiết kế đã bị thu hút bởi vài công nghệ mới nổi - tráng kính lưỡng sắc (dichroic)bóng đèn metal halide. Nhóm nghiên cứu này được lãnh đạo bởi Jim Bornhorst, sau đó có thêm một kỹ sư âm thanh và thiết kế console đang làm việc cho Showco, và nó bao gồm Brooks Taylor, một người thiết kế phần mềm, Tom Walsh, một người thiết kế phần cứng kỹ thuật số, và John Covington, thiết kế hệ thống analog.

Rusty Brutsché, chủ tịch của Showco vào thời điểm đó, hướng dẫn các dự án từ đầu đến cuối. Ông được xem xét các tiện ích thay đổi màu và có ý tưởng ủng hộ một đèn hoàn toàn mới. Vào mùa thu năm 1980, Brutsché và đối tác của mình, Jack Maxson, cùng với Bornhorst và các nhân viên Showco khác, ăn trưa tại một nhà hàng thịt nướng địa phương. Trong khi thảo luận về tính khả thi của việc xây dựng một đèn mới dựa trên bộ lọc màu lưỡng sắc, Maxson nhận xét, "Hai motor và ánh sáng sẽ di chuyển ..." Tất cả đều nỗ lực xây dựng sau đó, và tháng mười hai năm 1980, đã ra đời mẫu và bộ điều khiển đầu tiên. Brutsché quyết định nhóm Genesis sẽ là một ứng cử viên có khả năng hình tượng trước hệ thống, bây giờ được gọi là VL Zero (hình 15.02).

Figure 15-02

Hình 15.02:   VL Zero.

Brutsché và Bornhorst đã bay tới London để trình bày ý tưởng cho những thành viên ban nhạc. Trong vựa cỏ khô chuồng 500-tuổi ở miền quê nước Anh, họ thực hiện hai cue đơn giản. Một thành viên ban nhạc kêu lên, "Tôi mong có nhiều màu, nhưng theo Jove, tôi không biết nó sẽ chuyển động". Cùng lúc đó, quan hệ giữa cá nhân và doanh nghiệp đang hoạt động bắt đầu giữa hai nhóm.

Ngày 25 tháng 9 năm 1981, trong một sân đấu bò tại Bacelona, Tây Ban Nha, Genesis mở tour lưu diễn Abacab với 40 đèn Vari*Lite nguyên mẫu. Khán giả đã phản ứng ngay lần đầu tiên, khi những bộ đèn chiếu và di chuyển vào đám đông. Mỗi lần hoạt động, phản ứng của đám đông rất mạnh. "Tôi nghĩ, chúng ta đã thấy hệ thống của chúng tôi hoạt động với âm nhạc kỳ diệu và biết rằng mọi cái đã thay đổi bằng cách nào đó ", ông Bornhorst nói, nhân dịp kỷ niệm 15 năm đêm đó ở Tây Ban Nha

Theo Tom Littrell, cũng của Showco trong những ngày đầu:

Vari*Lite, Inc, những kỹ sư đã bắt đầu toàn bộ dự án để trở thành Vari*Lite bằng cách suy nghĩ về một hệ thống đèn thống nhất, tự động và kiểm soát toàn bộ. Bóng đèn GE Marc 350, thiết kế ban đầu cho máy chiếu slide, đã xuất hiện trong thế giới giải trí, follow spot gắn ttrên giàn khung gây sự chú ý của Jim Bornhorst và nhóm của ông vào cuối năm 1970. Họ cũng bắt đầu nghiên cứu tỉ mỉ kính lưỡng sắc (dichroic) như một phương tiện màu, vĩnh viễn không nhạy cảm với nhiệt độ. Những kỹ sư của Vari*Lite, Inc, tạo ra một bộ đổi màu mờ dần thật tế xây dựng quanh thuộc tính của kính dichoric và đóng gói, cùng với nguồn sáng mới, vào một dụng cụ ánh sáng sân khấu kích cỡ thật tế.

Một bức ảnh mô hình băng ghế-bench (Hình 15.03) cuối cùng đã được tiết lộ sau nhiều năm che giấu. Trong nhiều năm, Vari*Lite im lặng về việc cách hoạt động như thế nào vì họ sợ bị vi phạm bằng sáng chế, nỗi sợ hãi của họ đã thành sự thật, và vài năm sau, họ bảo vệ mạnh bằng sáng chế của họ tại tòa.

Figure 15-03

Hình 15.03:     Mô hình Vari*Lite

Lịch sử của Vari*Lite

Vari*Lite được thành lập để sản xuất và tiếp thị những sản phẩm mới của Showco. Đèn Vari*Lite được mô tả như là "đèn điều khiển bằng máy tính khép kín". Đèn bao gồm hộp lắp ráp phía trên bao quanh nguồn cung cấp cho bóng đèn, cơ chế pan, và những thiết bị điện tử khác. Thân đèn, hay đầu, chứa bóng đèn, cơ chế màu, hệ thống dimmer cơ khí, và kiểm soát tilt. Hộp phía trên cũng là chỗ gắn tất cả phần cứng. Tất cả đèn được điều khiển bởi một hệ thống ghép channel phân phối tín hiệu kỹ thuật số. Điều này có nghĩa là chỉ cần ba dây cable micro từ máy tính cung cấp tất cả dữ liệu điều khiển cho tất cả đèn.

Vari*Lite gốc xử dụng bóng Marc GE 350-T16 có thể cho ra 140 fc tại 40 feet với nhiệt độ màu 5600 Kelvin. Phải mất 2 giây để xoay thiết bị đi 180 độ và vị trí chính xác trong vòng 1 độ trên trục. Nó có một douser cơ khí mà đi từ đầy đủ về nghỉ trọn dưới nửa giây. Có thể thay đổi luồng sáng bằng cách chọn mở bất kỳ tám khẩu độ có sẵn.

Có lẽ tính năng độc đáo nhất, và không bị sao chép sau đó khá lâu, là hệ thống màu. Bóng đèn cho ra 60 màu bằng cách xử dụng nhiều lăng kính lưỡng sắc thay vì màu chuẩn. Nó có thể đổi màu trong 1/10 giây. Ngoài 60 màu chọn trước, nó có thể quay một kết hợp để tùy chỉnh màu bằng console máy tính.

Ban đầu, tất cả đèn được điều khiển qua một console máy tính tùy chỉnh với bộ xử lý giao thức độc quyền. Bộ vi xử lý và nhớ cue nằm ngay trong đèn, và một liên kết dữ liệu hai chiều tốc độ cao cho phép đạt mức độ tinh tế một hệ thống xử lý trung tâm không thể cung cấp thiết bị lớn, theo Rusty Brutsché. Vì điều này, sản phẩm Vari*Lite không thể chạy bằng bất kỳ console khác, trừ trường hợp được thiết kế bởi Vari-Lite. Console ban đầu có thể lưu trữ 250 cue từ 96 đèn. Nó không có băng hay ổ đĩa lưu trữ, thiết bị xử dụng mạch lưu trữ tích hợp. Có thể viết cue cho từng đèn hay nhóm đèn và có thể gọi ra theo ý thích hay theo thứ tự. Board vận hành có thể tự thao tác bất kỳ tính năng của bất kỳ đèn nào trong cue.

Tôi không tiết lộ chi tiết của những series tiếp theo trong lịch sử lâu dài của công ty này, nhưng vào năm 2003 Genlyte Thomas Group đã mua lại tất cả tài sản của Vari*Lite và bộ phận bán hàng bao gồm cả tên thương hiệu Vari*Lite, và tất cả các bằng sáng chế liên quan đến sản phẩm của Vari*Lite. Không nghi ngờ công ty đã tiếp tục xây dựng trên danh tiếng vững chắc của nó và có nhiều người thiết kế rất trung thành, ngay cả sau khi bán cho Tập đoàn Philips.

Những phát triển hiện nay

Điều xem xét này cho sự phát triển cơ giới hóa, đèn điều khiển từ xa không nên thực hiện bất kỳ cách nào để giảm thiểu những nỗ lực cho việc thực hiện sáng tạo cao vào cuối năm 1970 và sau đó nữa. Tôi kinh ngạc sự sáng tạo và muốn nâng cao phương tiện truyền thông của chúng ta.

Những tiến bộ trong thiết kế moving light (đèn có motor yoke hay kính di chuyển vận hành qua điều khiển máy tính - tất cả các tên gọi này đều cho cùng một sản phẩm chung) có thể là do hai hãng sản xuất phi truyền thống: Showco, ánh sáng lưu diễn và công ty âm thanh từ Dallas, và Morpheus Lights, Inc, một công ty lưu diễn San Jose, California. Sự phát triển của những sản phẩm của họ đã đường dẫn tương tự, nhưng cũng có những biến thể thú vị với chủ đề. Hơn 18 công ty khác trong lĩnh vực này, cung cấp nhiều mục mới mỗi tháng. Vài cái nhái gần giống, nhưng nhiều cái thêm tính năng làm phong phú sự đổi mới này. Vì vậy, đèn điều khiển máy tính cho rock & roll rõ ràng đã bác bỏ những kỳ vọng nó chỉ là một mánh lới quảng cáo hay chỉ hiệu lực trong thời gian ngắn.

Nếu kỳ thị khi giới thiệu công ty rock & roll tạo ra moving light, ban đầu bị sân khấu và truyền hình xa lánh, thì định kiến này đã được khắc phục từ lâu. Đặc biệt là truyền hình, đã chấp nhận, trao giải thưởng Emmy từ hồi 1983 và 1984 cho thấy nó đã có mặt. Vari*Lite nhận được giải Academy of Television Arts and Science Emmy Award năm 1991 cho sự phát triển của hệ thống đèn tự động Vari*Lite Series 200 (hình 15.04). Công ty đã vinh dự nhận giải này lần nữa vào năm 1994, cho đèn compact Wash VL5 về việc sáng tạo bộ đổi màu DICHRO*TUNE rất mịn, crossfades phổ màu đầy đủ.

Figure 15-04

Hình 15.04:     Vari*Lite Series 200

Broadway đã chấp nhận moving light (xem chương 24) và xem là chủ yếu trong hệ thống ánh sáng của họ, bao gồm cả "Starlight Express, The Will Roger Follies", "The Who’s Tommy", "Miss Saigon" và nhất hiện nay "A Tale of Two Cities", Bộ phim như Streets of Fire và Batman cũng đã xử dụng rộng rãi.

Rock & roll đã chứng minh đèn, với khả năng của nó thay đổi vị trí, đổi màu, thêm mẫu tự động, và trên vài thiết bị còn thậm chí thay đổi focus, là một công cụ rất giá trị. Ngay cả những bộ đèn rẻ tiền nhất có thể cho ra hiệu ứng náo loạn (ballyho) mạnh, đúng số tiền của bạn bỏ ra. Phạm vi chức năng rộng như những công ty phát triển . Trong khi đó, nó chỉ là một nhóm rất nhỏ có tiền và khả năng xử dụng các bộ đèn vào thập niên 1980, hiện nay đã vượt ra ngoài thị trường rộng mở trên mọi cấp độ. Moving light như khả năng thấy trong cửa sổ hiển thị trong show của Broadway hay buổi khiêu vũ 8 tuổi. Việc xử dụng và sự đa dạng những công cụ có sẵn dưới tên gọi chung là moving light chưa nhìn thấy đỉnh điểm. Tôi không bao giờ hy vọng theo kịp phân khúc thay đổi nhanh chóng của ngành công nghiệp này.

Các hãng sản xuất đèn được liệt kê trong hình 15.05 là những hãng đứng hàng đầu hiện nay, nhưng tôi không thể nói điều gì sẽ xảy ra trong ngày mai. Nhìn vào sự gia tăng công ty sản xuất đèn, đã giảm đi bao gồm những thiết bị đủ chắc chắn để có thể áp dụng trong ngành công nghiệp lưu diễn. Đèn được thiết kế để lắp đặt trong câu lạc bộ không được liệt kê ở đây. Danh sách hãng sản xuất này khá dài chỉ có thể có nghĩa là một thị trường phát triển mạnh không chỉ cho ca nhạc nhưng còn cho nhà hát, show cho doanh nghiệp, công viên giải trí, Broadway, cửa hàng, viện bảo tàng, và thậm chí cả kiến trúc.

Năm 1999, hoàn toàn về mặt chính sách không bán đèn xảy ra khi Vari*Lite đã công bố kế hoạch cung cấp một dòng sản phẩm mới để bán. Đến khi đó, cho thấy đơn vị cho thuê trực tiếp từ công ty hay từ một trong những người phân phối của họ được cấp giấy phép. Nhiều chuyên gia ánh sáng bây giờ đã có sự lựa chọn để thuê hay sở hữu hệ thống ánh sáng Vari*Lite tự động. Năm chuyển tiếp cho Vari*Lite là năm 2000, khi console Vari*Lite Virtuoso DX được giới thiệu tại Live Design International (LDI) cùng với đèn spot VL2000 và đèn wash VL2000. Đèn wash VL2000 đã nhận được giải thưởng thiết kế EDDY cho sản phẩm ánh sáng của năm. Năm sau, họ nhận được Prime Time Emmy Award lần thứ ba, giải thưởng Emmy cho thành tích xuất sắc trong kỹ thuật của console Virtuoso. Năm 2002, Vari*Lite 3000, dòng sản phẩm đã giới thiệu, và đèn spotlight trộn màu bắt đầu phát hành những năm sau đó.

ADB Lighting Technologies                    www.adblighting.com   

Clay Paky                                             www.claypaky.it           

Coemar                                                 www.coemar.com         

D.T.S. Illuminazione                               www.dts-lighting.com   

Elation Professional                              www.elationlighting.com           

G. Lites                                                 www.g-lites.com           

High End, Inc. (The Barco Group)           www.highend.com        

Irridant                                                  www.irridiantthg.com    

Martin Professional                               www.martin.com           

Morpheus Lights                                   www.morpheuslights.com         

OmniSistems                                        www.omnisistem.com   

PR Lighting                                           www.pr-lighting.com     

Production Resource Group (PRG)         www.prg.com   

ROBE                                                   www.robelighting.com  

SGM Technology                                  www.sgmtechnologyforlighting.com

Tei Electronics, Inc.                               www.teilighting.com      

Vari*Lite (A Philips company)                 www.vari-lite.com         

 

Đèn Wash Vari*Lite series 3500 (hình 15.06) và Profile Series 2500 (Hình 15.07) dòng sản phẩm được giới thiệu tiếp, theo sau là Vari*Lite Series 500 (Hình 15.08) dòng sản phẩm được chào hàng là thế hệ tiếp theo của đèn wash VL5. Gần đây nhất, đèn Wash Vari*Lite VL3500 đã được giới thiệu tự hào về sản lượng lumen và kiểm soát luồng sáng

.Figure 15-06

Hình 15.06:   Vari*Lite series 3500

Figure 15-07

Hình 15.07:   Vari*Lite series 2500 Profile.

Figure 15-08

Hình 15.08:   Vari*Lite series 500.

Công ty sáng tạo hơn 25 năm tưởng tượng và nghiên cứu, có tay nghề và phát triển ngành công nghiệp giải trí. Mặc dù kế hoạch kinh doanh có thể thay đổi, người đọc nên mong đợi nhiều sản phẩm sáng tạo hơn từ công ty này.

Chi phí và có sẵn.

Ngay cả với sự cạnh tranh gia tăng, chi phí đã không giảm bao nhiêu vì những tính năng, tuổi thọ và độ chính xác cũng tăng theo. Nhu cầu tăng độ yên tĩnh, mượt mà hơn, cho ra ánh sáng mạnh hơn và những tính năng đặc biệt không thấp hơn giá thị trường, ngay cả với làn sóng sản phẩm từ những hãng sản xuất trên toàn thế giới. Cho dù chi phí phù hợp với thị trường sân khấu hay nhà hát đã quyết định họ cần những bộ đèn này, haynhững người thiết kế muốn xử dụng , tôi không chắc chắn lắm. Vì vậy, khi đã giới thiệu vào thị trường này nhiều sản phẩm mới, phải bị ràng buộc bước đột phá, và nó đã xảy ra. Sự ra đời của diode phát sáng (LED) và moving light kỹ thuật số (xem chương 16 và 17) đã tăng tốc phát triển làm đèn mới và tốt hơn với tốc độ chóng mặt. Chắc chắn chúng ta đã thấy sự không ngừng sáng tạo trong lĩnh vực này. Không thể mô tả tất cả moving light vì danh sách sẽ lỗi thời khi bạn đang đọc . Sau đây mô tả một mẫu đèn cung cấp nhiều tính năng, cũng như những thiết bị khởi đầu tất cả chuyện này.

Morpheus Lights

Khi Morpheus Lights bước vào thị trường moving light ngay sau Showco, họ đã tiến một bước xa hơn và thực hiện hai bộ đèn khác nhau có sẵn. Mô tả ngắn gọn sau đây tập trung vào công nghệ đầu tiên của họ. Panaspot là một thiết bị giống như Vari*Lite, với một hộp duy nhất chứa tất cả chức năng điều khiển và motor. Marc GE 350-T16 là bóng đèn họ chọn. xử dụng một màng trập cơ khí làm dimmer, nhưng họ đã có iris đầy đủ chức năng thay vì dùng ý tưởng của Showco. Có một khe cắm cho một mô hình kích cỡ mini-ellipse. Kích thước luồng sáng đã bị thay đổi bởi một iris có kính lúp. Luồng sáng dao động từ 2 đến 25 độ. Màu xuyên qua một thiết lập boomerang bảy màu tùy người dùng lựa chọn.

B đèn khác được giới thiệu bởi Morpheus PanaB. Kích thước tương tự như Panaspot và có phần nhẹ hơn, nguồn sáng là bóng PAR-64 tiêu chuẩn. Có thể xử dụng bất kỳ chiều rộng luồng nào, bao gồm cả bóng đèn ACL. Không có dimmer, do đó, sự kiểm soát cường độ sáng phải dùng hệ thống dimmer thường. Thiết bị này dùng bộ đổi màu cuộn có sáu màu khá rõ.

Ngay từ đầu, Morpheus đi theo đường khác bằng cách không thiết kế console tùy chỉnh. Thay vào đó, họ chọn xử dụng console của Kliegl Bros. Performer 2 console máy tính, gán cho mỗi đèn một vị trí qua soft patch. Nó cho phép điều khiển 125 đèn và lưu trữ được 225 cue. Họ nghĩ, vì console được công ty ánh sáng trào lưu sản xuất quá nhiều, nó có thể kiểm soát moving light cộng với bất kỳ đèn sân khấu tiêu chuẩn cùng lúc. Sửa chữa và thay thế dễ dàng thông qua những đại lý Kliegl trên toàn thế giới, do đó, dịch vụ đã được đơn giản hóa. Mặc dù Kliegl Bros đã đi theo cách của những công ty ánh sáng trào lưunên nhiều người không thấy tương lai trong thiết bị cầm tay nhỏ gọn, đáng tin cậy đó.

Thế hệ thứ hai của Morpheus nhiều tiến bộ. PC - Spot có một nguồn bóng đèn mới, Osram HTI 400-watt. Một yếu tố quan trọng là đèn hoàn chỉnh chỉ nặng 35 pound, nhẹ hơn so với VL2 và VL3. Trọng tâm treo cũng đã giảm đến 20 inch. Độ tilt 240 độ, không thể tốt hơn vậy. Zoom quang học một lần nữa đã chứng minh có thể cho ra luồng sáng từ 2 - 25-độ.

Đây là bộ đèn khác xa Vari*Lite đầu tiên xử dụng hệ thống màu lưỡng sắc, tuy nhiên, họ thêm vào một hệ thống cuộn 10-frame để hiệu chỉnh màu, bộ lọc khuếch tán, hay màu đặc biệt người thiết kế có thể yêu cầu. Tích hợp sáu mô hình bên trong, và ba cái có khả năng quay với tốc độ được lập trình và chỉ đạo, làm đèn thêm vài chuyển động rất đẹp ngoài pantilt. Mô hình kết hợp với thấu kính zoom để kiểm soát kích thước mô hình thật tế. Vẫn có thể focus luồng sáng từ cứng đến mềm từ xa.

Bộ đèn khác là PC-Beam. Bóng đèn là FEL 1000-watt, và đèn có dimmer nội bộ. Một chóa parabol tạo luồng sáng biến đổi từ loại ACL đến chiếu khu vực sàn rộng như đèn PAR. Màu chiếu xuyên qua bộ đổi cuộn 11-frame. Trọng lượng dưới 20 pound, bao gồm dimmer, bóng đèn, và những thiết bị điện tử. Đèn này cũng có 100 chương trình lập trình trước lưu trữ bên trong. có thể dùng để lập trình hay sửa đổi cho nhu cầu của người xử dụng.

Gần đây, công ty giới thiệu thêm XR2 PanaB (hình 15.09). Moving light wash này xử dụng nguồn cung ngắn 1200-watt, nhiệt độ màu 6500 Kelvin với công nghệ trộn màu CMY. Nó cũng có khả năng pantilt 360 độ và điều khiển luồng sáng từ 10 đến 22 độ. Công ty này đã chọn triết lý kinh doanh, cho thuê hơn là bán đi hầu hết sản phẩm.

 Figure 15-09

Hình 15.09:   Morpheus PanaB TRX2.


Martin Professional

Martin Professional chắc chắn xếp hạng cao trên danh sách những hãng sản xuất moving light bền bỉ, hiệu quả và thân thiện với người xử dụng. Toan thể họ hàng của đèn này có tổng số hơn 15, bao gồm MAC TW1 (hình 15.10), xử dụng nguồn sáng vonfram 1200-watt và một bộ thấu kính zoom hoán đổi cho nhau từ 14,5 đến 27, 20 đến 41, và đặc biệt rộng 97 đến 105 độ . B đèn này cũng dựa trên những nhu cầu của truyền hình giải trí và phim cần để cho ra màu chính xác 3200 đến 7500 Kelvin, phù hợp với nhu cầu của những phân đoạn của ngành công nghiệp trong khi cung cấp một hệ thống trộn màu CMY (cyan, magenta, yellow). B đèn này cũng rất yên tĩnh, chỉ có 40 dBA. Nguồn tự động chuyển nội bộ nên thiết bị có thể xử dụng trên được toàn cầu mà không cần đổi nguồn

.Figure 15-10

Hình 15.10:   MAC TW1

Các sản phẩm chủ đạo khác là MAC III profile (Hình 15.11), xử dụng bóng đèn phóng điện hồ quang ngắn 1500-watt. Nó kết hợp bộ trộn màu CMY cộng với biến thiên CTO (nhiệt độ màu cam) và zoom để mô hình gobo vẫn còn focus trong khi zoom, nếu muốn. Đèn này cũng là thiết bị quản lý từ xa (Remote Device Management- RDM) đã sẵn sàng (xem Chương 20) và Art-Net II. Martin còn làm những sản phẩm khác thay vì chỉ có moving light và console, vài thí dụ về những công ty khác sẽ xuất hiện trong những phần khác trong sách này.

 Figure 15-11

Hình 15.11:    MAC III profile

High End

Hệ thống High End đã thực hiện thay đổi kinh doanh gần đây vì bị mua lại bởi Barco. Công ty này cũng sản xuất bộ moving light nguồn LED (xem Chương 17). Họ hàng của đèn này cũng một đèn scanner đã tồn tại từ lâu gọi là Turbo Cyberlight (Hình 15.12), đó là đèn kế thừa thiết bị ban đầu của họ, Intellabeam. Nó có chỗ đứng độc nhất vô nhị trong thiết kế ánh sáng, và tôi hy vọng công ty vẫn duy trì hay cải thiện nó. Nói chung, chúng ta đang thấy rất nhiều đèn cho club sản xuất tại Trung Quốc theo phong cách này nhưng không giống như ở Mỹ. Việc xử dụng kính lắc bị giới hạn, vì kính không thể xoay gần rồi ra xa, như bị mang quai ách- yoke (pan 170 độ; tilt 100 độ), và có khuynh hướng dùng trong phòng nhiều hơn so với họ hàng của , nhưng buộc phải áp dụng trong tour lưu diễn vì nó là vô giá. Màu, mô hình, và những chức năng cơ bản khác đềuđủ. Tôi đã xử dụng rất thành công ho kịch, chương trình âm nhạc, cũng như truyền hình.

 Figure 15-12

Hình 15.12:   Turbo Cyberlight của High End.

Hệ thống High End đã hưởng một thị trường thích hợp khác trong truyền hình và sân khấu với đèn Studio Spot của họ (hình 15.13), được thiết kế đặc biệt cho hiệu ứng luồng khi chiếu mô hình. Nó có hai bánh xe quay gobo và thấu kính zoom 18 - 30-độ vô cấp. Studio Color (Hình 15.14) cho ra luồng sáng định hướng, có thể chọn từ 8 và 22 độ, thêm bộ chọn màu vô hạn. Nó được trang bị với frosting biến, strobe, và shutter (màn trập). Cả hai đều xử dụng nguồn sáng thông thường. Công suất 575 watt với bộ trộn màu CMY, bộ trọn gói cho nhiều ứng dụng. Ngôi sao sáng này cực kỳ phổ biến với truyền hình và phim, cũng như nhà hát vì hoạt động hầu như im lặng.

 Figure 15-13

Hình 15.13:   Studio Spot.

 Figure 15-14

Hình 15.14:   Studio Color.

Richard Belliveau, giám đốc công nghệ, đã giới thiệu vài sản phẩm có thể được coi là sản phẩm hàng đầu. Khẩu súng lớn, có thể nói vậy, là thiết kế rõ của đèn SHOWGUN 2.5 (xem hình 15.15), là đèn tự động rất lớn và mạnh có thể chiếu hình, thay đổi và kết hợp màu lưỡng sắc, và luồng chuyển từ cạnh cứng sang mềm, tất cả nằm trong một hệ thống nhỏ gọn.

 Figure 15-15

Hình 15.15:   SHOWGUN 2.5.

SHOWGUN 2.5 cho ra ánh sáng đến 130.000 lumen. SHOWGUN cho ra ánh sáng trong ba khía cạnh: thứ nhất, trong không khí với luồng sáng cạnh focus cứng hay mềm năng lượng cao, thứ hai, chiếu hình lên mặt sân khấu, và thứ ba, tại chính nó, đèn SHOWGUN, bằng cách xử dụng một hệ thống tracking LED polymer vi tiên tiến. Thiết kế quang học kết hợp với quang học chính xác, độc quyền thấu kính Fresnel micro polymer, cho phép SHOWGUN cho ra luồng focus cạnh cứng (hardedge) thật sự hay kết hợp cạnh mềm rực rỡ, mà không cần hai loại đèn riêng biệt. Khi focus hardedge, nó có thể chiếu hình HES LithoPattern. SHOWGUN dùng bóng đèn hồ quang ngắn metal halide 2500-watt được thiết kế bởi liên doanh giữa Philips và hệ thống High End và lên danh sách là MSR 2500/2. Một tính năng độc đáo khác là hệ thống tracking LED, trộn mảng tròn LED RGB cho phép người xử dụng chỉnh phù hợp với màu của luồng sáng chính, hay cho đối tượng màu bổ sung bằng cách trộn những giá trị RGB. Theo High End Systems: "Hệ thống tracking LED mình nó đã cho ra hơn 5000 lumens, và hoạt động song song với những tính năng khác của SHOWGUN để xác định lại những quy tắc của thiết kế ánh sáng".

Đèn tiêu chuẩn từ công ty này bao gồm series Studio Command (Hình 15.16) cả hai phiên bản: bóng MRS 700 - và 1200-watt, cũng như một phiên bản halogen cho nhu cầu cần độ Kelvin 3200. Nhóm đèn này có tất cả tính năng ưa thích và xử dụng bộ trộn màu CMY lưỡng sắc. Phiên bản wash gọi là Studio Beam, cũng xử dụng bộ trộn màu CMY với phạm vi zoom 18 - 30-độ.

Công ty cũng sản xuất hai bộ đèn độc đáo gọi là SHOWPIX và StudioPix (xem chương 16). SHOWPIX, kết hợp giữa đèn wash LED năng lượng cao và đèn lập trình cường độ cao, hiển thị hình đồ họa, đại diện đầu tiên cho dòng sản phẩm mới của hệ thống High End, đèn pixelation. Đèn SHOWPIX hơn đèn wash LED về di chuyển yoke. Đầu đèn có đường kính 18-inch của nó có một mảng tròn 127 đèn LED 3-watt đồng nhất với sản lượng là 24.000 lumens RGB. "Cung cấp khả năng pixel không giới hạn bằng cách chiếu không chỉ wash màu mà còn chiếu hình và những hiệu ứng bắt mắt khác khi quay đầu đèn vào một thiết bị màn hình", theo tài liệu của công ty. SHOWPIX được trang bị 411 hình động và nhiêu mô hình để thiết kế ánh sáng. Người dùng có thể tải những tập tin và hình ảnh của họ qua ứng dụng mới High End System Echo, chương trình phần mềm trực quan cung cấp nội dung cũng như quản lý tính năng RDM. Chuyển đổi lập tức nhiều dạng tập tin tự động tối ưu hóa hay "supercharges" nhũng hình ảnh và bản đồ tập tin vào pixel của 127 LED. Kích cỡ của thiết bị cũng rất ấn tượng, với diện tích mặt đèn rộng 17,7 inch, toàn bộ đèn ngang 23,4 inch, và cao 33 inches. Mặc dù lớn nhu vậy, nó vẫn ngang kích cỡ của vài bộ đèn mới, chẳng hạn như Bad Boy của PRG và VL3500. Công ty tuyên bố SHOWPIX rất kinh tế bởi không cần thay bóng và chi phí bảo dưỡng thấp vì khá hạn chế những bộ phận chuyển động. B đèn này khi xử dụng chắc chắn ấn tượng và có thể đứng làm hình mờ cho moving light LED khác.

 Figure 15-16

Hình 15.16:   Studio Command

ROBE Lighting

Một công ty có trụ sở tại Cộng hòa Séc, ROBE Lighting cung cấp một đường liền mạch và nhiều loại đèn đa dạng, bao gồm cả bộ đèn moving yoke light, vài moving mirror (scanner), mover kỹ thuật số và đèn LED. Đèn ColorWash 750 AT Tungsten (Hình 15.17) của họ xử dụng bóng đèn halogen Phillips Hi-Bright 750 FastFit và có sẵn cả hai mô hình cho châu Âu và Mỹ để cân nhắc dịch vụ điện. Hệ thống màu xuyên qua bộ trộn CMY với CTO, và nó có khả năng diễn ra năm màu tùy chỉnh trong thiết bị. Đèn có luồng sáng 12 - 34-độ hay tùy chọn 24 - 60-độ và luồng xoay được. Thiết bị lớn nhất là ColorSpot 2500E AT. Đây là đèn các tính năng tiêu chuẩn thấy trên hầu hết những thiết bị đã thảo luận. ROBE Lighting chỉ là một trong một danh sách dài các công ty như Clay Paky, Coemar và OmniSystems, liệt kê trong hình 15.5.

(Từ “yoke” ở đây có nghĩa là cái ách như ách bò, các bạn có thể hiểu nghĩa nó là cái quai của movie head. Cũng nói thêm, trong sách này, như trong lời nói đầu, tác giả dùng từ “luminaire” chứ không dùng “light” để chỉ đèn ánh sáng. Từ này có vẻ chính xác hơn vì chỉ có một nghĩa, không dễ nhầm lẫn như từ light có quá nhiều nghĩa khác. Nhưng ở châu Á và VN, đã quen dùng từ “light” này. Nói tóm lại, để thống nhất, moving light để chỉ chung những loại đèn có ánh sáng chuyển động. Tách riêng, moving mirror hay scanner để chỉ đèn lắc kính, moving (movie) head để chỉ đèn có cái đầu quay. ND)

 Figure 15-17

Hình 15.17:   ColorWash 750 AT Tungsten của ROBE Lighting

Production Resource Group (PRG)

Mặc dù PRG chỉ cung cấp một loại đèn (chỉ cho thuê), và nó gắn liền với console riêng của (xem Chương 11), nhưng nó sẽ là thí dụ khác về moving light thế hệ tiếp theo. PRG lớn hơn những hãng sản xuất moving light khác, trong thật tế, tên của nói lên tất cả. là tập đoàn lớn những công ty liên kết với nhau bởi Jere Harris, tuy nhiên, họ quyết định phát triển ánh sáng cho riêng mình và console là khởi đầu gắn liền với Vari*Lite trong sắp xếp thị trường. Họ là những người thiết kế và thiết lập ánh sáng, quản lý chương trình, video và kỹ sư âm thanh ưu việt không thể tranh cãi trên toàn thế giới, ít nhất trang web của họ ghi vậy, nhưng sự thật rất khó tránh đụng chạm công ty này, chừng mực nào đó trong tour lưu diễn.

Bad Boy (Hình 15.18) là một đèn hybrid (ghép), kết hợp những phẩm chất của đèn tự động truyền thống đèn trong điểm diễn lớn. Mạnh và rực rỡ, sẵn sàng lên đường và đáng tin cậy, Bad Boy có thể là sự lựa chọn của bạn khi cần luồng sáng lớn. Nó cho ra 48.000 lumens mạnh và những cặp thấu kính quang học có độ phân giải cao với một bóng đèn MSR Philips Gold 1200-watt SA / SE FastFit có thể đặt ở bất kỳ cấp độ nào giữa 700 và 1400 watt. Tài liệu của nó tự hào hiệu quả quang học trên 40%.

Thấu kính rõ và điều khiển mịn như nước cho zoom, focus, dimmer, và hình ảnh thu được chất lượng cao bằng cách kết hợp ống kính và motor servo tốc độ cao, gobos phân giải cao rất hoàn hảo với nhau. Bad Boy kết hợp một hệ thống thấu kính zoom với hình ảnh quang học đặc biệt và phạm vi zoom là 08:01 từ một spot hẹp 7 độ sang flood 56 độ. Trước ống kính có đường kính 8-inch tạo ra luồng sáng lớn, đầy, có thể dễ thay đổi bằng thấu kính zoom của đèn và kích thước luồng bằng iris. Zoom bao gồm bốn nhóm thấu kính - mỗi nhóm điều khiển độc lập về tính chính xác trong khi vẫn duy trì focus trong quá trình thay đổi zoom - cộng với điều khiển focus gobo và hình thức gobo. Bad Boy hai bánh xe quay gobo liên hệ với nhau, và từng bánh xe của bảy gobos được hiệu chuẩn riêng, do đó, thiết bị tự động chỉ số định hướng của mỗi gobo bất kể đang ở vị trí nào.

 Figure 15-18

Hình 15.18:   Bad Boy.

Bad Boy chuyển động rất nhanh, có phối hợp, so với thiết bị khác chỉ bằng 1/4 kích cỡ và trọng lượng của nó. Servomotor ba phase, tốc độ cao với bộ ly hợp và mã hóa quang học kép cho pantilt, đáp ứng chính xác, với tốc độ tối đa 4,1 giây cho 540 độ khi pan và 3,2 giây cho 270 độ khi tilt với độ chính xác là 0,2 độ .

Màu sắc rực rỡ là kết quả của hệ thống Quantum Color. Phương pháp này cho màu sáng tạo, có bốn bánh xe màu với bảy màu riêng biệt trên mỗi bánh xe: thiết kế bánh xe bộ lọc đổi màu và ba bánh xe màu cố định tổ chức thành ba màu cyan, magenta, và yellow. Bad Boy bộ lọc màu riêng biệt cho phép thay đổi độ saturationhue của màu CMY, kết quả trong một phạm vi rộng và màu bão hòa rực rỡ, tinh khiết và đồng nhất ngang luồng sáng. Vì không cần vật khuếch tán, nên tối đa hóa độ sáng trắng và độ sáng màu. Mỗi bánh xe xử dụng motor servo tốc độ cao cho phép quay, cung cấp độ nhảy màu tức khắcflash cũng như kiểm soát độ mịn cho bộ đổi màu.

Electronic Theatre Controls (ETC)

Mặc dù nhiều người đã cố gắng phát triển và tiếp thị một đèn ellipsoidal thiết kế chung quanh đèn moving light, ETC có một sản phẩm đã được chứng minh điều đó trong đèn Source Four Revolution (Hình 15.19). Đây là một thiết bị có đủ zoom đến pan và tilt và tính năng zoom 15 - 35-mm. 24-frame màu cuộn và kiểm soát motor QuietDrive độc nhất làm nó rất lý tưởng để xử dụng cho nhà hát hay ca nhạc. Một trong những tính năng dễ nhận nhất của đèn ellipsoidal tiêu chuẩn là bốn màn trập có thể định hình ánh sáng, và ETC đã chế biến thành một module điều khiển từ xa. Cũng có những module khác, chẳng hạn như bộ cuộn màu, module bánh xe xoay, và module bánh xe tĩnh, cùng với một module iris. Tính năng độc đáo này cho phép người dùng lựa những chức năng cần thiết. Tất cả module đều được tự động điều chỉnh và yêu cầu không thay đổi patch hay nội bộ cho thiết bị. Giới hạn duy nhất là thiết bị không thể chấp nhận tất cả module cùng lúc, do đó, có vài điều cần chuẩn bị cho sự lựa chọn. Bóng đènQXL -750 watt, 77 volt với một dimmer điều chế.

ADB Lighting Technologies

ADB Lighting Technologies, khởi đầu một công ty Bỉ vào năm 1920. Nó đã được mua vào năm 1987 bởi Tập đoàn SIEMENS, và một quản lý mua lại tiếp trong năm 2002, công ty đặt trụ sở chính tại Pháp. Họ có một lịch sử rất dài về thiết kế nhà hát, đèn ánh sáng, dimmer, và console. Đèn WARP Motorized 800 W (Hình 15.20) được bao gồm trong chương này tính độc đáo của nó. Có, nó là một moving light, nhưng nó không được như vậy. Nó có thể là đáng mua hay thành ra một movie head. Quan trọng hơn, nó là một spot profile, và, có, vẫn là độc nhất vô nhị. Công ty không cố gắng tiếp thị nó cho ca nhạc lưu diễn, nhưng cuốn sách này là tất cả các công nghệ mới về ánh sáng. Một tính năng duy nhất là điều khiển vòng xoay, shutter thông thường bị thay thế bằng bốn lam tích hợp bên trong, mỗi cái có khả năng xoay vòng 360 độ bất tận. Sự sáng tạo (bằng sáng chế) là chế độ kiểm soát của focus, zoom, iris, gobo, và shutter. Những cái vòng cho phép điều chỉnh chính xác (điều chỉnh bằng tay) từ bất kỳ vị trí nào quanh đèn hay qua điều khiển từ xa. Nó dùng bóng đèn halogen 800-watt và hoạt động ở 230 volts, 3200 Kelvin, cho ra sản lượng ánh sáng cao hơn so với một bóng đèn profile 1200-watt thông thường. Tất cả tính năng ngoài pantilt có thể trang bị motor cho tất cả chức năng. Nếu chi phí không phải là vấn đề chính, đèn cấp tiến này thật sự bảo đảm khỏi cần tính toán gi thêm.

          Figure 15-19        Figure 15-20

       Hình 15.19:   Source Four Revolution của ETC.               Hình 15.20: WARP Motorized 800W của ADB.


Tương lai của moving light

Tương lai, nói ít nhất, không có ý định chơi chữ, là rất sáng sủa. Chỉ mới thảo luận về vài loại đèn thôi mà đã có thể không cần hỏi đã biết, tính linh hoạt của moving light áp dụng không chỉ cho ca nhạc mà còn ở tất cả hình thức vui chơi giải trí và ứng dụng kiến trúc khác. Chi phí giá cả đều giảm, và không cần so sánh thiết kế linh hoạt đó có thể hơn đèn thông thường hay không. Chất lượng hiện đại và thiết kế tiên tiến của những phát triển này gần như tiến quá nhanh khó theo kịp. Khi bạn có thể điều khiển focus, màu, và thậm chí dimmer nguồn sáng và nhiệt độ màu từ xa, đã đến lúc mở rộng tư duy của chúng ta, không chỉ cho ca nhạc, mà còn cho tất cả ứng dụng giải trí. Tôi có thể thấy không có sự phân chia lĩnh vực về những đổi mới này, và cùng với những cái khác thể hiện trong cuốn sách này, ít nhất cũng có cái gì đó có thể xem xét để làm cho chương trình tiếp theo của bạn độc đáo hơn.

Mong muốn của chúng ta hệ thống có thể ngày càng trở nên hợp lý, không rắc rối, ít xử dụng cable, thêm nhiều khả năng như giao thức máy tính nhiều hơn, giới thiệu thiết kế máy tính khéo léo để hiện đại hóa cách làm việc của chúng ta. Mong đợi rất nhiều chuyện. Nhà hát ngày càng nhiều, thậm chí ở hội trường của trường trung và đại học bây giờ cũng đã cài đặt moving light. Chỉ vì lĩnh vực này đơn giản là đang tiến quá nhanh để ngăn nó tiếp quản hầu hết loại hinh ánh sáng giải trí trong tương lai không quá xa.

------------------- Hết Chương 15 --------------------



 

Add comment


GIÁO TRÌNH

CATALOG SCAN

Ai đang truy cập

We have 27 guests online
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay29
mod_vvisit_counterHôm qua714

Comment mới nhất

  • thienhungcaphe 21.08.2018 07:46
    Cám ơn rất hay, nhưng không thấy chương 6 ...

    Read more...

     
  • tanngoclighting 17.10.2014 00:33
    Ngoài ra, tuỳ thuộc theo từng hãng sản ...

    Read more...

     
  • tanngoclighting 17.10.2014 00:26
    Sorry Khi đọc về cấu tạo đèn Fresnel (hình ...

    Read more...

     
  • tanngoclighting 17.10.2014 00:14  
  • huonggiangcbe 11.10.2014 19:20
    Cháu đã gửi mail đăng ký một quyển ...

    Read more...