Sound&Lightingvn Documents

Hoàn thiện hơn nghệ thuật nghe nhìn...

  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size

Ánh sáng Ca nhạc & Chương 12

 

CHƯƠNG 12

Dimming và hệ thống phân phối lưu động

Portable Dimming and Distribution Systems

 

Cuối thập niên 1960, khi tôi bắt đầu làm việc cho một hãng sản xuất ánh sáng, tôi đã nói, "Chúng tôi bán những gì chúng tôi có. Chúng tôi không khuyến khích khách hàng có những yêu cầu đặc biệt". Đó vào năm 1980. Giống như nhà hát chính danh, ánh sáng ca nhạc vay mượn từ bất kỳ thị trường hay dịch vụ nào có cái gì đó có thể giữ lại, chỉnh sửa, hay xử dụng cho lợi ích của nó.

Tuy nhiên, đến giữa thập niên 1980, mọi cái đã thay đổi. Hãng sản xuất mới đã cố gắng đáp ứng nhu cầu của ánh sáng ca nhạc và lưu diễn. Sản phẩm xuất hiện đã không thích nghi hay lập lại ý tưởng cũ nhưng thay vào đó là những sản phẩm thú vị mới là bịa hoàn toàn từ đầu đến cuối về một tầm nhìn mới.

Dimming là khu vực đóng, không đổi mới về điện tử, thực hiện những tác động đầu tiên trong những năm đầu của tour lưu diễn. Trong thập niên 1970, những hãng sản xuất chỉ mới bắt đầu tiếp thị những nhóm nhỏ 6 đến 12 dimmers trong một thiết bị lưu động, thường cấu hình rack-mount 19-inch. Những hãng sản xuất đã không nghĩ, càng gia tăng kết nối input cũng như những dải output trực tiếp cho dimmer pack, mỗi lần thiết lập dimmers lại càng tập hợp ít hơn nhiều.

Hệ thống phân phối với bảng kết nối (patch) điều khiển điện áp thấp là sự đổi mới thật sự bắt đầu bởi những hãng sản xuất Anh. Thiết kế này cho phép người thiết kế gán một hay nhiều dimmers cho một channel duy nhất trên console. Sau đó, xuất hiện hệ thống điện tử hay hệ thống kết nối mềm, đã xử dụng máy tính của console ánh sáng để gán mạch điều khiển. Vài người Anh và hãng sản xuất Mỹ đặt một patch cord-type (loại nối dây) "mini-pin" vào rack dimmer (Hình 12.01).

Figure 12-01

Hình 12.01: Rack ETC với 48-channel và patch mini-pin.

Một cách để gán đèn vào dimmer là tạo ra bảng có nhiều jack nối cái. Người thợ điện có thể cắm jack nối đực của cable thích hợp vào jack nối cái của dimmer, và giả định ở đây là control của dimmer, một hay nhiều bộ đèn có thể lấy điện thế tại những điểm khác nhau trên cùng một dimmer. Nếu có một hệ thống patch điện áp thấp trong rack dimmer hay patch mềm trong console, nó có thể để tạo kết nối giữa các bộ đèn và chuyển nhượng dimmers khi xử dụng jack nối mạch Socapex 6, mà không cần phải jack nối cho mỗi pin riêng.

Figure 12-02

Hình 12.02:   Rack Dimmer của Strand

Figure 12-03

Hình 12.03: Rack Dimmer của Avolites

Đặt vài dimmers pack này (Hình 12.02) trong một thùng có bánh xe đẩy, có nghĩa là 24 đến 72 dimmers 1-kW hay 2,4 kW đã kết nối và sẵn sàng hoạt động, nhiều khi nó sẽ bị xếp chồng lên nhaunối dây cho mỗi pack riêng. Hình 12.01 cho thấy trong mặt trước của một thiết bị rack Electronic Theatre Controls (ETC) có bánh xe đẩy và 24 module đôi (48 2,4 kW dimmers), với 3 module phụ tùng (dưới bên phải). Bộ máy điện tử ở trên cùng, và một patch nối dây mini-pin tạo điều kiện gán output bên phải. Khi vận chuyển giảm thiệt hại đáng kể do việc xử dụng những slide-in là nắp bằng gỗ để bảo vệ mặt trước và sau trong khi vận chuyển. Trong dimmers trước đây, nó cần có những pack phủ ngoài để thêm vòng đệm hãm và dùng keo epoxy để giữ cho các thành phần khỏi bể từng miếng trong xe tải. Tuy nhiên, một lần nữa, những hãng sản xuất đã thấu hiểu và làm cho những thiết bị này an toàn hơn. Rack dimmer xử dụng phổ biến nhất trên chuyến đi là xây dựng module một hay hai dimmers trong một slide-in để thay thế nhanh và dễ dàng. Kỹ thuật viên thiết lập cho ca nhạc phải thao tác rất nhanh để tắt toàn bộ rack, tháo rời nó để lấy một dimmer ra, và sau đó rất khó tìm ra vấn đề và thay thế linh kiện. Với module, có thể lấy từng món ra và khi nào rảnh rỗi sẽ kiểm tra và sửa chữa linh kiện hư hỏng. Gần đây, những dimmer mới đã được giới thiệu bởi vài hãng sản xuất chỉ có semimodular, dimmers đã trở thành đáng tin cậy, thiết kế module cũ tốn tiền và choán chỗ nên đã bị loại bỏ (hình 12.03).

Trong thời gian đầu, trước khi tour lưu diễn đạt được một chỗ đứng, module dimmer Mỹ đã cho ra nhiều series: 2 kW, 2,4 kW, 3,6 kW, kW 4, kW 6, và thậm chí là 12 kW. Tuy nhiên, cồng kềnh và rất nặng, vì được thiết kế cho việc cài đặt ở chỗ mà trọng lượng không là tiêu chí quan trọng. Một tiến bộ lớn đã đến khi những hãng sản xuất người Anh xử dụng dimmers nhỏ 1-kW. không phải là module thật sự nên có thể lấy ra khỏi rack dễ dàng, đội kỹ thuật trong tour rất thích vì đã nhỏ gọn hơn, và người thiết kế ánh sáng cũng thích, vì đã cho họ điều khiển riêng từng đèn một. Thiết kế này cho phép patch từng PAR-64 (99% toàn bộ đèn 1000 watts trên tour tại thời điểm đó) mà không cần những twofers hay nhiều outlet. Bây giờ patch điện áp thấp có thể đi qua và gán dimmer cho đèn tương ứng đến bất kỳ một hay nhiều channel. Dimmer 1-kW cũng có nghĩa là mạch điện có thể đặt trong một rack duy nhất, với những CB chính đầy đủ kèm theo thiết bị bảo vệ. Những hãng sản xuất Mỹ như ETC đã làm module 2,4-kW. Hiện nay, bạn sẽ thấy nhiều người hâm mộ một trong hai vì lý do riêng của họ, nhưng rõ ràng cả hai đều có phần thị trường cân bằng.

Sự tiến triển đến tình trạng thật trong chuyến đi có nghĩa là sẽ có vài điều tích hợp vào trường hợp tương tự. Việc đầu tiên là hệ thống phân phối điện, mặc dù vẫn còn lý do để thực hiện những CB chính được thiết kế để phân phối điện cho nhiều dimmers và tủ điện, và chắc chắn có sẵn cho những nhu cầu đặc biệt. Sau khi cố gắng cho ra vài loại jack nối, ngành công nghiệp lưu diễn Mỹ cố định vào series Cam-Lok 1 "J", được xử dụng độc quyền kích cỡ cable nguồn tiêu chuẩn của ngành công nghiệp: # 2/0 và # 4/0 dây đơn. Các loại cable nguồn đơn được sơn màu mã hoá theo tiêu chuẩn phổ quát: pin trung tính (neutral), tiếp đất (ground), và nóng (hot) rất rõ ràng để thợ điện gắn cho jack nối (hình 12.04). Kích cỡ cable nguồn này được lựa chọn bởi vì phần lớn CB tại điểm diễn đều 200 hay 400 amp (mỗi chân), phù hợp rất tốt. Được đánh giá cao nhất 225 amps và 400 amps, tương ứng. Làm bài toán đơn giản, có nghĩa là một nguồn 200-amp có thể chạy 42 dimmers 1.2 kW một cách an toàn, tuy nhiên, một PAR64 xử dụng thường nhất bóng đèn 1000-watt, chuyển thành 8,3 amp, vì vậy chúng ta có thể chạy 48 dimmers 1-kW an toàn. Cũng vậy với # 4/0 và 96 dimmer1-kW. Vài rack lấy từ nguồn hệ thống hệ thống, do đó, một rack 48-channel 1-kW có thể lấy cho rack khác mà không cần thành lập một "home-run" cho rack thứ hai.

Figure 12-04

Hình 12.04:   Series jack Cam-Lok “ J ” mã màu Mỹ: . hot, neutral, và ground

Việc bổ sung tiếp theo là khả năng ghép kỹ thuật số (digital multiplexed DMX). Uỷ ban Kỹ thuật của United States Institute for Theatre Technology (USITT) đã cho ra tiêu chuẩn chúng ta vẫn xử dụng hiện nay, DMX-512. Một trong những tính năng của DMX so với analog là 512 channel có thể được kiểm soát bằng một sợi cable thay vì phải chạy một cable cho mỗi rack dimmer. Analog điện áp thấp đòi hỏi một dây điều khiển cho mỗi dimmer, kết quả là phải cần bó dây lớn. Khi lượng dimmers tăng, khó làm ra cable điều khiển đủ linh hoạt cho các tình huống lưu động. Bây giờ tất cả những điều đó đang thay đổi (xem Chương 20), và hệ thống mới sẽ cho chúng ta lượng channel nhiều hơn để xử lý movinglight, scroller, và đèn LED.

Một mục tiêu chuẩn hóa tốc độ lắp ráp dimmer và đèn là cable đa lõi (multicable). Một phiên bản 6-mạch là phổ biến nhất, tuy nhiên cũng phiên bản 12-channel. Socapex đánh bại các đối thủ cạnh tranh, và bây giờ tất cả người cho thuê và lưu diễn đều dùng jack nối tiêu chuẩn này. Nó cung cấp kết nối nhanh chóng, an toàn giữa rack dimmer và đường ống dẫn dây điện hay “break-out”. Hầu hết rack dimmer có đèn chỉ báo nguồn điện và thiết bị ngắt điện chính để bảo vệ thiết bị. Một số thậm chí có đồng hồ kỹ thuật số hiển thị điện áp và cường độ dòng điện tiêu thụ.

Một cú huých vào dimmer cường độ cao. Vì hãng sản xuất lớn đều đứng sau toàn bộ dimmers và các thiết bị phụ trợ này, họ bắt đầu tập trung nghiên cứu và phát triển việc thu nhỏ những thành phần này, tuy nhiên, lĩnh vực ca nhạc vẫn còn bị chi phối bởi mới những công ty mới bắt đầu thành lập, không nằm trong khoảng thập niên 1970. Dimmers cung cấp hệ thống tích hợp đầy đủ trong một thùng đựng, hoàn chỉnh với CB chính và jack nối multicable, có sẵn từ một số công ty cũ, nhưng ETC vẫn giữ vai trò lãnh đạo trong lĩnh vực này. Sự thống trị ban đầu bởi các hãng sản xuất người Anh chủ yếu là do sự tham gia trực tiếp của họ trong tour lưu diễn và nhìn thấy tận mắt cái gì làm việc trong tour hợp lý. Cuối cùng, họ tiếp thu phần lớn những doanh nghiệp lắp đặt mà có lẽ đã dẫn đến sự sụp đổ của hầu hết công ty cũ.

Dimmers mới nhất hiện nay xử dụng công nghệ sóng sine, có hiệu quả loại bỏ tiếng hum bắt nguồn từ đèn đốt tim. Điều này thường không là vấn đề đối với show ca nhạc, nhưng khi xem xét bán hàng cho rạp chiếu phim và hãng phim truyền hình thì điều này khá quan trọng. Đương nhiên, những dimmers đó mắc tiền hơn.

Rack phổ biến nhất tại Mỹrack Sensor ETC cấu hình 48 dimmers 2,4 kW. Nó có vài đối thủ mạnh, thí dụ, Avolite, Strand Lighting, LightRack, và series Celco’s Fusion xử dụng dimmer 10-amp. (Lưu ý: rack Fusion xử dụng nhóm 12 dimmer trong mỗi module). Độ tin cậy của dimmers Sensor ETC đã được thử nghiệm trong nhiều năm, và tour lưu diễn folk có khuynh hướng giữ lại cái họ biết là đáng tin cậy (xem Hình 12.05).

ADB Lighting Technologies

Avolites America

Celco

Electronic Theatre Control (ETC)

Leviton

LEX Power

Kupo

Leprecon

LSC Lighting Systems

www.adblighting.com

www.avoam.com

www.celco.co.uk

www.etconline.com

www.leviton.com

www.lexproducts.com

www.stage.com

www.leprecon.com

www.lsclighting.com

Hình 12.05:     Hãng sản xuất dimmer.

Rack phân phối điện

Khá mới cho thị trường là sự bổ sung rack đơn giản chỉ phân phối điện, không dimmer, do việc xử dụng moving light xử dụng bóng HMI hay "shortarc" khác. Hầu hết, nhưng không phải tất cả, moving light xử dụng bóng "shortarc" hay Thủy ngân (Hg), medium-arc iodide (HMI) và HTI đều không dimmer được. Những rack phân phối điện cũng đã giải quyết nhu cầu về nguồn điện riêng biệt cho nhiều loại đèn 120, 208, và 240 - volt, nó không phải không phổ biến việc giàn khung ánh sáng có tất cả ba loại đèn trong gói moving light. Rack phổ biến là rack Lex Products Fuzzy Touring (Hình 12.06), trong đó có 72 mạch 1,5-kW. Motion Laboratories, hãng sản xuất jack nối và CB có thể cấu hình cho điện một phase 110-volt; ba phase Y 125/250- 120/208- volt , và ba phase 208-volt. Hệ thống rack Leprecon cung cấp nhiều kích cỡ và cấu hình khác nhau, những panel nguồn có hiệu quả trong việc cung cấp năng lượng chính xác cần thiết cho những bộ đèn tinh vi.

Figure 12-06

Hình 12.06:   Rack phân phối điện

Phân phối điện khác

Nhiều show hiện nay đòi hỏi vô số nguồn năng lượng cho máy tính, chiếu video, v.v. Những nhu cầu này được xử lý qua hộp break-out (Hình 12.07) đặt gần một cụm nhu cầu điện 120-volt. Rack phân phối điện hay hộp break-out, không được cấp nguồn qua jack Cam-Lok như rack dimmer, vì những vấn đề tần số có thể phát sinh từ các thiết bị điện tử trong (SCR) của dimmers, có thể gây ra vấn đề họa tần với máy tính và nhữngnguồn khác. (Xem hình 12.08). Dimmer công nghệ Sine-wave có thể loại bỏ vấn đề này nhưng cá nhân tôi chưa thử nghiệm vấn đề này.

Figure 12-07

Hình 12.07:           Nguồn hộp break-out

 

Cable đa lõi (Multicable)

Hiện nay, multicable đã được chuẩn hóa để nhữngngười cung cấp cho thuê và lưu diễn có thể phù hợp với nhu cầu trên những show lớn hay đặc biệt. Jack nối tiêu chuẩn là Socapex SL61 có vài phiên bản bên ngoài (hình 12.09). Nó được giới thiệu cho lưu diễn lần đầu tiên bởi Show lites vào đầu năm 1970. Nó hai cấu hình kết nối nội bộ, cable tiêu chuẩn hàn hay gấp nếp bằng cách dùng áo bao S/O linh hoạt, bao phủ dây 12-gauge AWG bên trong, có thể xử lý 25 amps. Hệ thống dây điện bên trong vỏ, bao gồm dây riêng cho mỗi: hot, neutralground, khiến cho kết nối cuối cùng, chính xác ở giữa, là dây dự phòng. Phương pháp nối tới rack dimmer hay break-out hay break-in là xuyên qua một vòng đaiở vòng này có xâu chuỗi định rõ số để vặn và khóa. Đây là hệ thống tuyệt vời, đã thử nghiệm và chứng minh an toàn trong nhiều năm. Thuật ngữ break-in và break-out để coi jack nối Socapex là đực hay cái (theo yêu cầu), chia thành 6 cable riêng SJO 12/3-gauge, mỗi pin là jack tiêu chuẩn sân khấu 20-amp hay jack 1-U Edison khoảng 3-feet. Nó dùng để kết nối trực tiếp đến rack dimmer, ống dẫn dây, hay bar cho sáu đèn PAR có jack Socapex.

[Chú ý: The National Electrical Code, Điều 520, cho phép dùng áo bao SJO trong ứng dụng này bởi vì áo bao S/O quá lớn, không phù hợp với jack Socapex, nhưng tất cả ứng dụng sân khấu khác cable lưu động phải xử dụng cable có áo bao S/O]

Figure 12-09

Hình 12.09:       Jack nối Socapex S L61

Thiết bị chuyển mạch (Company switch)

Trừ khi bạn đang ở trên một tour lưu diễn nhỏ, nơi bạn cũng là thợ điện trưởng, bạn sẽ không cần phải biết nhiều về thiết bị chuyển mạch cho đến khi nó không có ở đó. Giả sử bạn đang làm việc với người quản lý tour hay chương trình. Một trong những điều trên checklist của bạn nên yêu cầu về nguồn điện có sẵn, bạn cần để có thể kiếm ra tủ điện mà còn giải mã nó có thể cung cấp cái gì. Thiết bị chuyển mạch cài đặt trong nhà hát là trên bức tường đối diện đường ray trượt. Vài chỗ là trên bức tường phía sau (không lý tưởng, vì phải cần nhiều cable để nối với - để tự mang cable nguồn dài hơn). Bây giờ đến phần quan trọng: bảng điều khiển này sẽ cung cấp cái gì? Tại Mỹ, chúng tôi gọi dây điện 3 Ø/5; có nghĩa nhãn trên mặt hộp sẽ hiển thị một số (thí dụ, 100, 200, 400, 600, hay 800 amps). Con số này được nhân với số lượng phase (Ø). Do đó, một hệ thống 400-amp, 3-phase sẽ cung cấp 1200 amps. Hình 12.10 cho thấy một thiết bị chuyển mạch của Union Connector. Lưu ý mã màu, bảng điều khiển gắn trên jack nối output Cam-Lok ở dưới cùng bảng điều khiển vỏ bảo vệ.

Các tính năng bao gồm, không để lộ ốc vít hay lỗ ốc jack nối điện dương thực hiện qua nguyên tắc Lektralink, để kết nối an toàn, dễ dàng. Trong phiên bản lưu hoá, jack nối này cũng không thấm nước, một điều tốt khi làm festival ngoài trời khả năng bị tắm mưa. Việc chúng ta có thể xác định tốt nhất, không có người cho thuê nào xử dụng bất cứ cái gì khác hơn jack Cam-Lok trên cable nguồn đơn # 2/0 và # 4/0, vì vậy bạn sẽ có thể đi lưu diễn bất cứ nơi nào khắp nước Mỹ và có thể thuê cable bổ sung cho những tình huống có yêu cầu về chiều dài.

Figure 12-10

Hình 12.10:     Company switch.

Nếu bạn không nhìn thấy bất kỳ đầu nối nào, sau đó hệ thống xử dụng một buss bar hay bear-end vào jack nối lug. Với jack nối buss bar, bạn cần lug cái (khoen code) trên đầu cable. Đối với đầu nối bear-end, bạn không cần jack nối nào cho đầu cable điện. Đó là tiêu chuẩn thực hành tại Hoa Kỳ để thực hiện 5 cable nguồn 100 feet # 4/0 với jack nối Cam-Lok, cộng với một bộ từ 5 - 10-feet cable đơn với Cam-Lok trên một đầu và bear-end ở đầu kia (có nhiều lug cái trong ngăn kéo, chỉ cần trong trường hợp này). Hiểu được điều này không làm cho bạn thành thợ điện trưởng, nhưng nó có thể giúp bạn nhìn không quá ngu ngốc trong nhóm khảo sát.

Biến thế (Transformer)

Hơi bất thường khi thấy tour lưu diễn ở Mỹ mang theo biến thế, mặc dù chúng ta đã từng cần đến trên hàng không mẫu hạm khi làm chương trình truyền hình, và thường thấy trên những điểm lễ hội tạm thời, nơi công ty điện lực địa phương nguồn điện áp cao (480vac), phải giảm đến mức độ hữu ích, thường 208/120vac hay 240vac. Nhu cầu biến thế trở thành vấn đề quan trọng hơn khi đang lưu diễn ở nước ngoài. Như đã đề cập trong Chương 8, thảo luận về tour lưu diễn tại Nhật và Nam Mỹ, sự cần thiết phù hợp với điện thế cho movinglight đôi khi có thể yêu cầu biến thế phải trong dịch vụ thuê mướn.

Biến thế (Hình 12.11) là thiết bị chuyển năng lượng điện từ mạch này sang mạch khác qua ghép quy nạp (inductively coupling). Hai dây dẫn gọi là quy nạp, khi cấu hình sao cho có thay đổi trong dòng điện qua một dây, cho ra điện thế trên đầu dây khác. Dòng điện thay đổi trong mạch đầu tiên (sơ cấp- primary) tạo ra thay đổi từ trường. Sự thay đổi từ trường này tạo ra điện áp thay đổi trong mạch thứ hai (thứ cấp-secondary). Hiệu ứng này được gọi là hệ số hỗ cảm (mutual induction). Nếu tải kết nối với mạch thứ cấp, điện sẽ chảy vào cuộn dây thứ cấp của biến thế và truyền năng lượng từ mạch chính cho tải kết nối trong mạch thứ cấp.

Nói cách đơn giản, biến thế có thể tăng (boost) hay giảm (buck) điện áp output khi điện thế áp dụng cho thiết bị. Vì vậy, nếu có vấn đềvề điện áp có sẵn tại chỗ, nếu có thể được, trong ý nghĩa nào đó, nên thay đổi nhu cầu của thiết bị mà bạn đang cố gắng cấp nguồn. Biến thế này cũng cung cấp những ưu điểm vì nó cô lập (cách ly) năng lượng từ các nguồn khác có thể tạo ra tiếng hum hay buzz trong thiết bị điện tử.

Máy phát điện lưu động

Nhiều chỗ, đặc biệt là lễ hội, đòi hỏi nhiều năng lượng nhiều hơn những cái có sẵn. Điện tạm thời có thể đưa vào bởi công ty điện lực địa phương, nhưng nó có thể hiệu quả khi chi phí cho một chương trình trong một ngày, đơn giản là thuê máy phát điện lưu động để cung cấp năng lượng bổ sung cần thiết. Công ty điện ảnh đã làm điều này trong nhiều năm. Hình 12.12 cho thấy máy phát điện Cat, khung bao gọi là khinh khí cầu, và nó giảm tiếng ồn do động cơ diesel. Máy phát điện, về bản chất là một biến thế khép kín có thể sản xuất cả điện A/C lẫn điện D/C (mặc dù có vài loại D/C chỉ có trong máy phát điện xách tay). Trong trường hợp này, máy phát điện cung cấp năng lượng cơ học qua động cơ để chuyển đổi năng lượng thành điện năng phục vụ như là nguồn năng lượng cho các máy khác. Máy phát điện cho các mục đích của chúng tađộng cơ diesel bình thường. Tùy thuộc vào tình hình, có thể được chống ồn, bằng cách thêm một lớp bao và hệ thống ống xả làm giảm yếu tố ồn. Điều này không tính vào giá cho thuê, để xác định nếu cần thiết có thể ảnh hưởng đến chi phí bạn phải chịu.

Figure 12-11

Hình 12.11:   Máy phát điện.

Có vấn đề khác với máy phát điện. Những người xử dụng thiết bị điện, điện tử phải có quyền kiểm soát điện tử, hệ thống feedback điện tử duy trì sản lượng điện áp và chọn tần số. Chu kỳ hay tần số cho bất kỳ thiết bị nào phải được duy trì bằng động cơ hay quạt, chẳng hạn như qua máy tính điều khiển quạt tản nhiệt đặt trong rack dimmer hay đèn để có tần số 60 Hz ổn định. Không phải tất cả máy phát điện cũng có tính năng này.

Figure 12-12

Hình 12.12:     Máy phát điện lưu động

Cuộn dây cable

Một liên kết yếu trong hệ thống ánh sáng là cable điều khiển 100 - 200 – feet cho console ánh sáng đặt trong nhà. Thông thường, trong một show, cable bị ngắt kết nối với console, và một nhân viên hậu đài địa phương bắt đầu kéo nó lên sân khấu rồi cuộn lại vứt trong thùng dây. Trên đường đi, những jack nối bị kẹt dưới ghế và kéo qua chỗ nước ngọt đổ ra. Bảo vệ cable của bạn bằng cách yêu cầu cho một cuộn cable (hình 12.13).

Figure 12-13

Hình 12.13: Cuộn cable

Bộ nối Cable

Nếu cable nguồn chính của bạn bị cắt hay kéo ra, hay cable Socapex chạy ngang qua khu vực hậu trường hay cable điều khiển console bị dán xuống băng qua lối đi khán giả bị hư hỏng, bạn không có khả năng cho nó vào một show. Nhìn vào bộ nối dây cable (Hình 12.14). có thể tiết kiệm cable mắc tiền và không trái pháp luật khi một người nào đó băng qua cable. Đừng mong đợi hội trường thực hiện việc này như là một phần của thiết bị lưu diễn của bạn.

            Figure 12-14

            Hình 12.14:     Bộ nối Cable

 

------------------- Hết chương 12 --------------------

 

Add comment


GIÁO TRÌNH

CATALOG SCAN

Ai đang truy cập

We have 54 guests online
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay299
mod_vvisit_counterHôm qua384

Comment mới nhất

  • tanngoclighting 17.10.2014 00:33
    Ngoài ra, tuỳ thuộc theo từng hãng sản ...

    Read more...

     
  • tanngoclighting 17.10.2014 00:26
    Sorry Khi đọc về cấu tạo đèn Fresnel (hình ...

    Read more...

     
  • tanngoclighting 17.10.2014 00:14  
  • huonggiangcbe 11.10.2014 19:20
    Cháu đã gửi mail đăng ký một quyển ...

    Read more...

     
  • huonggiangcbe 24.08.2014 17:51
    e muon mua mot quyen GIAO TRINH AM THANH ...

    Read more...