Sound&Lightingvn Documents

Hoàn thiện hơn nghệ thuật nghe nhìn...

  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size

Ánh sáng Ca nhạc & Chương 06

 

CHƯƠNG 06

Viết chú giải cho âm nhạc

Cueing the Music

 

 

            (Thuật ngữ “Cue”, dùng trong điện ảnh, kịch có nghĩa là “chú thích”. Ở ánh sáng, nó cũng có nghĩa gần như vậy, là lời chú giải để lập trình, vận hành ánh sáng. Nếu dịch ra sẽ hơi bị dài dòng, tôi để nguyên bản tiếng Anh, không dịch – ND).

Trong khi vẽ sơ đồ (layout) và bảng màu (color chart), bạn phải suy nghĩ trước những cue sẽ hoạt động với plan của bạn ra sao. Sơ đồ có cho bạn mức độ linh hoạt bạn muốn không? Liệu bảng màu có hoạt động hài hòa với âm nhạc không? Một kỹ năng thiết kế riêng biệt là hòa nhập vào bức tranh đó. Người thiết kế phải lấy những dữ liệu thô từ bản vẽ ánh sáng và thiết kế sao cho cùng cách nhạc sĩ viết những ghi chú trong trong tổng phổ.

Từ lúc bạn nghe âm nhạc của nghệ sĩ lần đầu, bạn nên lên kế hoạch vũ đạo ánh sáng, phá vỡ âm nhạc vào những điểm của cue. Bài hát giống y như phim ảnh và tiểu thuyết, nó cũng có những công thức. Nếu bạn nghe một bài hát trước khi viết bất cứ điều gì, bạn sẽ nghe được công thức hay luồng chảy của âm thanh đó. Công thức thông thường có thể xác định là giới thiệu, câu 1, câu 2, cầu nối (bridge), và điệp khúc lập lại, câu tiếp theo, cầu nối, đoạn điệp khúc, và tiếng guitar solo hay giai điệu của nhạc cụ, cầu nối, điệp khúc, và kết thúc. Mỗi bài hát có vài công thức biến thể không chính xác như mô tả ở đây, vì vài phần sẽ bị đảo ngược hay bổ sung theo thứ tự khác nhau - nhưng hầu hết những bài hát nhạc pop thương mại có những cái gọi là cái móc- hook (đoạn điệp khúc dễ nhớ-ND). Cái này thường là tiêu đề bài hát và là phần bài hát mà người hâm mộ nhớ và hát theo. Thường, hook đều có phong cách hát riêng, được coi là phần điệp khúc. Ca khúc càng lớn, lớn hơn, dữ dội hơn, thì ánh sáng càng sôi động và phải thêm nhiều hiệu ứng ánh sáng hơn thế nữa.

Dấu chấm câu của Cue, bài hát.

Công việc của người thiết kế ánh sáng ca nhạc là bổ sung thêm cho bài hát và nâng cao sự thưởng thức, không làm lu mờ. Tôi đã thấy loại ánh sáng ca nhạc mỗi bài hát nhìn chính xác giống như flash đèn cho mỗi nhịp trống và riff guitar. Nó quá ghê tởm phần yêu thích của tôi là hay dùng blackout ở cuối.

Nghệ sĩ dành thời gian đáng kể để viết bài hát của họ, tập luyện, sản xuất và thu âm nó . Lao động đam mê này có cấu trúc và ý nghĩa sâu sắc đối với nghệ sĩ và người hâm mộ trung thành. Nó không thể đi tắt bằng lời nhạcchương trình âm nhạc và nó đã thành công đến mức độ mọi người sẽ trả tiền để xem nghệ sĩ yêu thích. Ánh sáng là bản dịch trực quan từ âm nhạc và ánh sáng đòi hỏi cách tiếp cận chuyên nghiệp về quy trình tạo ra cue, cũng giống như nó đã tạo ra âm nhạc. Đôi khi một bài hát rất dễ dịch ra ngôn ngữ ánh sáng, chẳng hạn như bài ballad hay bài hát vui, và đôi khi nó không như vậy, chẳng hạn như một bài hát rock phức tạp thuộc loại có những mức cực cao và mức cực thấp, thậm chí nhịp điệu cũng thay đổi. Bất kể, mỗi bài hát đòi hỏi phải chú ý đến những chi tiết đó, vì vậy nó sẽ không được hạ xuống từ cực điểm (anticlimactic) và bạn sẽ phải để dành thủ thuật nào đó để kết thúc. Cách duy nhất để thực hiện điều này là phải kiên nhẫn và dành thời gian cần thiết để cấu trúc bài hát, làm lịch trình hiệu ứng cho toàn bộ bài hát.

Tôi tiếp cận âm nhạc mới giống như cách tôi đọc kịch bản. Bạn đọc ba lần: lần đầu cho những niềm vui của nó, thứ hai để tìm những lời nhạc trực tiếp ảnh hưởng đến cue ánh sáng, và 1/3 thời gian tìm những cue tiềm năng ẩn trong hộp thoại. Tôi tiếp cận bài hát cũng cùng cách đó. Lần đầu, tôi nghe nó để có thể tận dụng tuyệt đối, và lần thứ hai tôi cố gắng chọn ra các điểm phải chỉnh sửa, dấu trọng âm, những câu và điệp khúc, và chỗ thay đổi nhịp điệu. Lần cuối cùng tôi nghe "color-sắc thái" của bài hát: vui vẻ-happy, vàng và cam; ủ rũ hay u sầu, xanh và lavender; bốc lửa và nóng, đỏ; nhẹ nhàng, màu lục và màu xanh – lục. Nghe nhạc với mắt nhắm nghiền, và cố gắng hình dung ra những sắc thái màu có thể liên kết được với nó.

Chọn Console phù hợp với Cues

Phân tích một bài hát giúp bạn xác định các loại hình console ánh sáng, bạn sẽ cần. Bàn điều khiển bằng tay gần như quá khứ, nhưng console hybrid cho phép vận hành bằng tay với những cue trong bộ nhớ có thể truy cập khi cần. Tôi là một trong những người đầu tiên đi tour có một console máy tính, Light Palette đời đầu của Strand Lighting, Inc. Lý luận của tôi tại thời điểm đó là nghệ sĩ, John Denver, đã có danh sách rất nhiều bài hát và ông đã biểu diễn ngay, không có hành động mở đầu nào, cứ như vậy suốt gần 2 giờ ca nhạc. Máy tính cho phép tôi thiết kế mỗi phong cách bằng cách xử dụng trơn tru, những cue tinh tế hoàn toàn lập lại và ghi nó trực tiếp vào bộ nhớ. Tôi nghĩ ra cách nào đó để lấy ra cho mỗi bài hát, cần không theo thứ tự.

Tìm phong cách của bạn

Kinh nghiệm của tôi cho phép bây giờ có vài cách ngắn gọn, nhưng tôi vẫn thực hiện các bước trong tiềm thức như sau:

1. Lắng nghe bài hát, thử chọn một lời nhạc, một cụm từ âm nhạc, hay những động lực làm ra nét chung của bài hát.

2. Dịch bài hát ra sắc thái màu chính.

3. Tìm những cao điểm của bài hát (có thể không phải là phần cuối).

4. Tìm các phần lập lại của âm nhạc, chẳng hạn như điệp khúc và câu.

Quy trình này có thể sẽ dẫn đến bốn hay năm vẻ: mở đầu, điệp khúc, câu, chỗ solo, và kết thúc. Thay đổi giữa câu và đoạn điệp khúc có thể lập lại nhiều lần. Một cue khác có thể làm tại đoạn quay vòng, một thiết bị âm nhạc tìm thấy trong âm nhạc pop, cho phép nhạc sĩ lập lại giai điệu bằng cách xen một cụm nhạc giữa các chủ đề bài nhạc tương tự. Những cue sẽ đụng nhau hay từ từ mất dần đi? Không để tâm đến những cái nó đang có. Điều quan trọng là ăn khớp với từng đoạn ngắt nhạc nhưng không chỉ là chớp đèn.

Sau khi làm điều này cho tất cả bài hát, hãy nhìn vào thứ tự bài hát, hay tập bài hát. Xem nếu bạn có các mẫu màu tương tự cho các bài hát phát lại liên tục, và đừng ngần ngại đổi màu để tránh lập lại giống nhau trong hai bài nhạc liền kề. Chắc chắn, một cái nhìn có thể được lập lại sau này trong tập bài hát. Nếu phải xử dụng cùng một màu, cố gắng thay đổi hướng đến của màu, thí dụ, xử dụng backlight màu amber cho bài hát đầu nhưng dùng đèn sidelight amber hay follow spot amber cho bài hát tiếp theo, với backlight màu trắng.

Bố trí Cue

Làm thế nào để ghi nhớ chỗ cue phải xuất hiện? Hầu hết nghệ sĩ đều không theo một kịch bản nào cả, chẳng hạn như vở kịch hay vở opera, tuy nhiên, khi xử dụng bảng lời bài hát (lyric sheet), thì có thể xử dụng sách cue về phương pháp quản lý sân khấu truyền thống (Hình 06.01). Vài người thiết kế ánh sáng tour lưu diễn, trong đó có Jeff Ravitz, và gần như tất cả những người thiết kế show Las Vegas đều tham khảo lyric sheet (Hình 06.02) để làm cue, giống như làm cho kịch. Đây là một dạng thức sân khấu bình thường, không xử dụng trong ca nhạc lưu diễn, nhưng đôi khi hữu dụng trong những show diễn lâu, chẳng hạn như Las Vegas. Mặc dù nó không thực hành chung tại Las Vegas khi đạo diễn ánh sáng để lại sau một hay hai ngày trong show diễn 2 tuần, người vận hành console có thể thực hiện theo lời bài hát, cho follow spot, và thực hiện cue trên console từ những ký hiệu này. Tôi đã làm điều này hai lần trong những show diễn lâu, không giới hạn, và nó hoạt động tốt.

Figuire 06.01

 

Hình 06.01:       Lyric cue sheet, bao gồm phương pháp ký hiệu và những cue khác.

Figuire 06.02

Hình 06.02:       Ký hiệu cue sheet tám khuôn nhạc.

Sách Cue (The Cue Book)

Thông thường, người thiết kế ánh sáng sẽ điều khiển console, ngoại trừ những tour lưu diễn lớn. Nếu không, người làm chuyện này đi lưu diễn với showcũng thuộc những cue này như người thiết kế. Vì vậy, nếu người thiết kế ở cùng show và biết âm nhạc rành rẽ, thì tại sao phải bận tâm đến phương pháp cuing chính thức? Có hai lý do: họ có khả năng bị bệnh hay tai nạn và trên thật tế, người thiết kế là có thể làm việc cho vài khách hàng, và không gọi ra toàn bộ cue được, rất khó nhớ tất cả cue cho mỗi show. Ngoài ra, sau vài năm lưu diễn, một nghệ sĩ có thể xây dựng một tiết mục có nhiều bài hát, chứ không phải tất cả đều có trong show hiện tại. Khi những tour lưu diễn đi về, có thể thay thế bài hát cũ hay thử bài hát mới. John Denver đã có hơn 50 bài hát ban nhạc đã tập kỹ và có thể chơi trên bất kỳ show nào, và ông thường thay đổi mà không cảnh báo. Jeff Ravitz nói với tôi , trong tour gần đây nhất của Bruce Springsteen, ông đã có cue book dày 4 inches!

Một cách khác để tạo ra một plan hình ảnh cho một bài hát là đếm và lưu ý mỗi tám khuôn, giống như biên đạo múa đếm nhịp (1 và 2, 3 và 4 ...), và sau đó viết số vào giấy và đánh dấu bất kỳ việc thay đổi âm nhạc nào. Jeff Ravitz, Ringo Starr và Bruce Springsteen khách hàng của mình, nói rằng ông có thể không thể nào theo kịp với tất cả cue từ tất cả bài hát, vì vậy ông đã xử dụng phương pháp này.

Figuire 06.03

Hình 06.03:       Thí dụ về cue sheet

 

Lấy một tờ giấy và lắng nghe bài hát. Tính ra mỗi tám khuôn nhạc và sau đó viết một dòng, một dòng khác cho tám khuôn kế, và cứ như vậy. Nếu thay đổi cái gì đó trước khi tới tám khuôn tiếp theo, viết một dòng và chèn số khuôn trên nó. Bằng cách này, ngay cả khi bạn phải gọi cue sau nhiều tháng hay năm, bạn có thể tính ra những nhịpđúng thời điểm. Đây cũng là phương pháp tuyệt vời để biết khi nào kết thúc solo mà không chỉ có một thẻ sạch đẹp đến khi kết thúc bài hát - có nghĩa là, nếu những nghệ sĩ luôn hát theo cùng một cách. Trong mọi trường hợp, nó là một phương pháp tốt để kích thích bộ nhớ của bạn và giúp bạn hình dung được bài hát.

Trong dạng thức cue sheet của Paul Dexter (xem Hình 06.03), ông thường viết vài lời bài hát sau mỗi nhãn để nhắc nhở ông ta (và người khác) là sẽ xảy ra thay đổi - thí dụ, từ đoạn điệp khúc đến khúc bắt đầu guitar solo với lời hát như "time for me to fly". Ông ta nhìn thấy các từ khóa trên một trang đánh dấu cảnh báo trước khi thay đổi. Ông ta nói rằng, "Dạng cue sheet cơ bản này là chỗ để viết những khám phá và ghi chú mới, nằm chính xác tại những vị trí sẽ xảy ra hiệu ứng, chẳng hạn như thay đổi bối cảnh hay thả Kabuki, cue giàn khung di chuyển hay chiếu hình. "Bất kể điềulẽ ra phải xảy ra trực quan, nó có thể tổ chức lại bằng cue sheet.

Thẻ Cue (The Cue Card)

Tôi xử dụng thẻ danh mục dạng 4 x 5 inch. Nếu trang kích thước đầy đủ 8-1,2 x 11 inch sẽ quá lớn để đặt trên consolenhìn lướt qua nhanh. Những loại thông tin bạn đặt trên thẻ là những bí quyết. Tôi xử dụng một định dạng với vài biến thể trong nhiều năm. Hình 06.04 cho thấy dạng thức cho một console xử dụng bằng tay, và hình 06.05 cho thấy dạng thức cho console máy tính. Mặc dù có vẻ không khác nhau nhiều, các chi tiết trong cột Preset (cột 4) khá đơn giản cho máy tính, trong khi thống kê tổng số dimmer và cường độ rất cần cho console xử dụng bằng tay.

Figuire 06.04

Hình 06.04:       Cue card 4 x 5-inch cho console xử dụng bằng tay

Số Cue (Cue Number)

Tôi xử dụng mẫu tự A – B - C thay vì số lượng cho cue, do đó, nếu tôi gọi cue trên console đồng thời với follow spot, không ai có thể nhầm lẫn giữa cue 1 với follow spot 1 hay frame 1. Ngoài ra, tôi không tin số cue sẽ liên tục chạy suốt show, bởi vì thứ tự bài hát có thể và thường không thay đổi trong suốt tour diễn. Cue nhịp đầu, nhạc cụ, lời nhạc, hay bất cứ điều gì bạn xử dụng để chỉ thị những tác động sẽ diễn ra. Bởi vì show không phải là kịch bản, tôi xử dụng rất đơn giản, chẳng hạn như: "ban nhạc bắt đầu" "lời 1", "sax solo", điệp khúc", "kết thúc bài hát" hay "phục hồi".

Tác động

Các ký hiệu tác động (dưới cột Time) có thể thay đổi chút ít tùy thuộc vào việc bạn đang xử dụng máy tính hay console thủ công. Bàn máy tính đơn giản chỉ cần ghi lưu ý - thí dụ, PS 11 - 12 (2), có nghĩa là preset 11 cross-fade đến preset 12 ở số 2 (2 giây). Biến thể có thể được viết như P.S. 10 @ (6) và cue trước @ (10), có nghĩa là chồng lên preset 10 và fade preset ở số 10. Lưu ý rằng dấu ngoặc đơn luôn cho biết thời gian, số bên trong dấu ngoặc đơn cho biết số giây. Những dấu ↑ là dấu tăng lên, và ↓ là giảm đi hay BO là blackout. Chữ trong ngoặc, [ ], có thể thêm vào những ký hiệu khác. Nó cũng có thể trên console máy tính xử dụng một channel ở chế độ thủ công (manual). Điều này được chỉ thị M d36/7 (8), có nghĩa là phải tự thêm dimmer 36 đến mức độ 70% ở số 8. Trên preset của console thủ công, các ký hiệu này có thể là A x B (3), điều đó có nghĩa rằng scene A crossfades sang scene B ở số 3. Các ký hiệu A @ B @ (3) cho thấy thêm scene A và fade scene B ở số 3. Tác động khác sẽ A @ (3), có nghĩa là thêm scene A ở số 3.

Preset

Cột Ghi chú (note) là những tài liệu tham khảo cho những tác động hay những điều nhắc nhở bạn về lý do tại sao cue thực hiện điều này. Trên bảng hướng dẫn xử dụng, cột của console chỉ thị từng mức độ dimmer đặc biệt - thí dụ, d9/F d10/F D14/2 D18/6 D26/9 x (2), có nghĩa là dimmer 9 mức full, dimmer 10 mức full, dimmer 14 ở mức 20%, dimmer 18 ở mức 60% và 26 90%, cross-fading trên 2. Tương tự như vậy, D14/3 (10) có nghĩa là fade out dimmer 14 ở số 10. Điều này cũng có thể được xử dụng để làm giảm mức độ dimmer - thí dụ, D14 / 3 (5) - từ mức trước đây đến một mức độ thấp hơn. Vì fade out và thay đổi ở cấp độ đều giống nhau trong các ghi chú, vài người gạch dưới khi nó chỉ thay đổi mức độ.

Follow Spot

Các ký hiệu dưới cột Follow spot (FS) có thể phức tạp phải xem xét nếu tham chiếu nhiều hơn một. Như thí dụ chung, tuy nhiên, ký hiệu follow spot có thể đọc (John) F # 6 @ (3), có nghĩa là fade John trong frame 6, toàn thân người ở số 3. Việc xử dụng ký hiệu ↑ @ cho thấy có độ tăng lên, và ↓ @ hay BO là blackout cùng một cách làm với dimmers. Bạn có thể phát triển mẫu tự hay ghi chú số cho kích cỡ của vòng ánh sáng cần thiết, thí dụ, tôi xử dụng "1/2" ch chỗ thắt lưng và "HS" ch đầu và vai. Bạn có thể làm bất cứ điều gì để bạn dễ nhớ khi nhìn vào thẻ của bạn.

Linh tinh (Miscellaneous)

Cột Miscellaneous có thể thêm vào các ký hiệu bổ sung như hiệu ứng của cue, cue phông hay màn, cảnh báo, tôi không xử dụng bút màu trên thẻ của tôi, bởi vì chỉ phí thời giờ và màu có thể bị nhìn sai dưới ánh đèn đỏ hay xanh. Bạn có lẽ được dạy rằng những cảnh báo được chỉ thị bằng bút màu và gạch đến cái khác, tuy nhiên, chúng ta không thường định dạng theo kịch bản để làm điều đó, vì vậy nó không làm việc cho tôi, ngoại trừ ở điểm Las Vegas. Hãy nhận biết, mặc dù, có thể có bộ lọc màu cho ánh sáng, và có thể khó thấy những màu mà bạn đã xử dụng trên thẻ cue của bạn.

Liên lạc bằng lời nói

Khi gọi cue follow spot, thân thiện, nhưng chắc chắn, không cười cợt với người vận hành (operator). Nếu vài người vận hành thử đưa ra nhận xét không phù hợp, tôi sẽ nói không có thời giờ cho điều đó ngay bây giờ. Paul Dexter cho biết, ông đã chờ 15 đến 20 phút trước khi trình diễn để làm áp lực lên những người vận hành để họ tập trung trở lại.

Cách bạn giao tiếp với người vận hành ánh sáng, người vận hành console, hay follow spot tại chỗ sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến sự mượt mà của showđộ chính xác của những cue. Nó thật sự là một dạng thức nghệ thuật cho chính nó. Monck Chip luôn được đánh giá cao về hiệu quả cuing follow spot của mình, đặc biệt là trong tour lưu diễn Rolling Stones 1972. Ông chắc chắn là một trong những người tiên phong làm ánh sáng ca nhạc và phát triển rất nhiều kỹ thuật cuing vẫn đang được xử dụng.

Khi tôi còn là người điều khiển không lưu, tôi đã học được cái gì đó thường bị bỏ qua. Cách nói, tốc độ, và giọng nói rất quan trọng. Nếu người vận hành không thể hiểu bạn, anh ta sẽ không thể thực hiện cue. Cách phát âm và giọng địa phương của bạn có thể làm nản lòng người vận hànhlàm giảm cảm nhận của bạn với tiếng động khó hiểu. Đây không nói về bất kỳ giọng khu vực nào, nó chỉ chứng minh thật tế rằng cách bạn nói sẽ ảnh hưởng đến sự hiểu biết của người nghe. Air Force nói rằng, nếu nói giọng miền Mid-western thì tất cả mọi người nói tiếng Anh đều hiểu. Tốc độ cũng khá quan trọng, vì tốc độ và cách chuyển điệu bạn xử dụng khi nói chuyện sẽ ảnh hưởng đến người vận hành về mặt cảm xúc. Rõ ràng, nếu bạn đang la hét hay nói rất nhanh qua hệ thống liên lạc, bạn sẽ gây hại lớn nhất có thể, vì người vận hành sẽ bỏ mặc bạn. Anh ta sẽ nghĩ rằng bạn không kiểm soát được chính mình, và đó là thảm họa. Như khi điều khiển không lưu, chúng tôi được dạy nói 60 từ một phút, và tôi vẫn thấy tốc độ này cũng tốt khi cuing show. Tôi nhận ra bạn có nhiều điều để nói trong thời gian rất ngắn giữa những cue, nhưng tôi đề nghị bạn nên dành thời gian để tìm một cách nói ít đi, không phải tăng tốc để nói cho đủ. Sau cùng, nếu bạn nói quá nhanh, không ai hiểu bạn đã nói cái gì, thì bạn không nên nói nhiều quá. Tất cả những điểm này có thể thấy trong lớp học đọc diễn văn, nếu bạn có cơ hội, nhưng bạn cũng có thể tìm hiểu bằng cách nói cue vào máy thu âm và sau đó đảm nhận vai trò người vận hành. Hãy để ý nếu bạn có thể lắng nghe chính mình. Hay, nhờ người khác, không làm việc, lắng nghe và thử lập lại những gì bạn nói.

Cueing follow spot

Mục đích chính là đơn giản hóa, đặc biệt nếu bạn đang vận hành console. Bạn sẽ không bao giờ có nghiệp đoàn hay người vận hành follow spot kinh nghiệm, vì vậy nếu bạn luôn duy trì phương pháp đơn giản, không có vấn đề gì, sau đó bạn có thể phụ thuộc vào những show liên tục tiếp theo, ngay cả khi những người khác có liên quan đến mỗi đêm.

Thường thì mỗi follow spot được gán số thứ tựngười vận hành dùng để nghe, nhưng con số này cũng có thể đại diện cho một vị trí đơn giản. Một thí dụ rất cơ bản, 1 và 4 có thể cho ca sĩ chính, 2 cho người chơi đàn guitar, và 3 cho guitar bass. Trong trường hợp này follow spot sẽ được chỉ định cho người vận hành với độ lệch vị trí rất ít trong suốt show.

Vài người thích để gặp người vận hành bên cạnh sân khấu trước show để chỉ định vị trí sân khấu và follow spot trên sơ đồ sẽ được đánh số hay tên gọi. Người thiết kế khác không thích người vận hành đối mặt trước khi trình diễn, chỉ yêu cầu xác định vị trí của họ 15 đến 20 phút trước khi biểu diễn. Với ánh sáng trong nhà, bạn có thể yêu cầu mỗi người hướng đèn vào khu vực đã xác định. Điều này để người thiết kế có thể điều chỉnh kích thước iris, cân bằng cường độ, và xem xét vài quy tắc.

Vì người thiết kế có quá nhiều chuyện để xem xét và theo dõi, hầu hết đều cho người vận hành fade out đèn của mình nếu diễn viên đi khỏi sân khấu, họ không nên chiếu theo nghệ sĩ biểu diễn và chờ họ trở lại. Nếu nghệ sĩ biểu diễn uống nước, nói chuyện với kỹ thuật về mức độ âm thanh, hay thay đổi guitar, người vận hành sẽ tự động fade out. Bạn có thể xử dụng phương pháp từ khóa để cuing follow spot. Đây là một phương pháp gọi cue bằng cách xử dụng những từ như GO hay OUT hay FADE để nhắc nhở ai đó đáp ứng theo kế hoạch, thay vì dựa vào các thiết bị truyền tín hiệu hình hay cơ khí để gọi cue. Những bài phát biểu trước khi biểu diễn, cho dù đã giao cho người vận hành đứng chung quanh bạn hay qua headphone khi họ chiếu vào những vị trí của họ, có thể làm cái gì đó như thế này:

Chào buổi tối, quý bà và quý ông. Tôi sẽ gọi những follow spotspot 1, spot 2, v.v [Chỉ thị đèn nào bạn đang đề cập đến, thí dụ, góc đông bắc, bên trái hay phải sân khấu, người đàn ông mặc áo đỏ, bất cứ điều gì làm rõ vị trí mà]. Tôi cho tất cả cue như READY ... và ... GO. Không làm gì cho đến khi bạn nghe thấy từ GO. Nó sẽ chỉ định sự đổi màu, blackout, fade up, hay đón nhận. Bất cứ cái gì bạn nghe đều là thông tin hay chuẩn bị cho một cue sắp tới. Tất cả những cảnh báo cue được đưa ra như, thí dụ, STANDBY spot 1 trong frame 6, chiếu vào thắt lưng của Fred, fade số 3 ... READY... và ... GO. Số đếm tính bằng giây, và tất cả fade nên thực hiện đồng đều bằng những con số.

Bằng cách đếm miệng để họ có thể nghe tốc độ bạn đang đếm. Đặt ra các vị trí của tất cả nhạc công, bao gồm cả những mục tốc độ có thể giúp người vận hành nhớ được mỗi nhạc sĩ. Vài người xử dụng mẫu tự cho những khu vực sân khấu. Nếu nghệ sĩ di chuyển chung quanh sân khấu rất nhiều, làm kế hoạch như trên trong bốn hay năm khu vực trên sân khấu và hai hay ba khu vực chiều sâu. Để đóng lại, tôi nói:

Cảm ơn bạn, quý bà và quý ông. Tôi đang mong chờ một show tuyệt vời. Giữ màu và đèn tránh khỏi đầu của bạn, kiểm tra hệ thống liên lạc khi bạn đang ở vị trí.

Vài người thiết kế xử dụng tên riêng của người vận hành để gọi cue này, nhưng bạn nên làm bất cứ điều gì thoải mái nhất. Xử dụng tên của họ làm cho nó có vẻ cá nhân hơn và loại bỏ chuyện có thể bị nhầm lẫn với tất cả số khác được lắng nghe bởi những người vận hành. Trong show, tôi có khuynh hướng nói chuyện nhiều với người vận hành, chủ yếu làm cho họ cảm thấy như thể họ là một phần của show và không như robot chỉ biết bật và tắt đèn. Và, nếu bạn thấy rằng những người vận hành muốn trò chuyện rất nhiều, giữ liên lạc chạy thường trực, do đó bạn có thể gọi cue bất cứ lúc nào cần. Tuy nhiên, hãy cẩn thận không để họ nhầm lẫn giữa trò chuyện và thông tin cue thật tế. Tôi thấy cách tiếp cận này tốt hơn thay vì nói với mọi người "im đi-shut up". Hãy làm mọi người tin vào kỹ năng của họ, và họ thường đáp ứng với nỗ lực tốt nhất. Nếu họ có chung ý tưởng của những gì sắp xảy ra, hãy để họ thư giãn và giảm căng thẳng. Chắc chắn, điều này không phải luôn như vậy, và tôi đã ở những vị trí mà càng ít nói càng tốt, sự phán xét riêng của bạn phải được xử dụng trong mỗi show.

Tóm tắt

Cho dù bạn xử dụng thẻ cue hay hình thức nào khác, điểm quan trọng là phải rõ ràng và tiết kiệm những từ cue và ký hiệu. Thẻ Cue không nhất thiết phải được thiết kế để người thiết kế và người vận hành console có thể bước vào và tiến hành ngay lập tức. Thẻ cue là một bản tóm tắt những sở thích cá nhân của tôi, họ chỉ ở đó để giúp đỡ tôi trong việc vận hành show trơn tru. Khi tôi xử dụng người vận hành console, tôi không viết thẻ cho họ. Chính tôi nói chuyện cho họ thông suốt và để họ làm ký hiệu cue riêng của họ nếu muốn.

Trong phân tích cuối cùng, show của bạn có trơn tru hay không sẽ trực tiếp liên quan đến khả năng của bạn, làm cue cho cả hai: console lẫn follow spot trong thời điểm âm nhạc. Sự lựa chọn của bạn về màu và góc độ sẽ ảnh hưởng đến khán giả, nhưng gần như không đáng nhớ nếu như cue bị trễ hay bỏ lỡ. Khán giả rock & roll đã rất sắc sảo và nhận ra ánh sáng là một phần rất quan trọng của show.

Hiện đã có một sự thay đổi trong vài show xử dụng follow spot. Không bất thường khi coi thấy màu thay đổi rất nhanh và xử dụng tất cả sáu frame có sẵn với màu đậm đặc. Vì nhiều phim cũng đang xử dụng, và khán giả xem biểu diễn trên màn hình cực lớn - phóng đại hình ảnh cuộc sống- Life image magnification (I-MAG), có khuynh hướng giữ nguyên độ sáng cho những diễn viên suốt bài hát ở mức cường độ cân bằng với ánh sáng sân khấu. Không có vấn đề camera phải focus lại, bạn muốn những diễn viên nhìn thấy thật đẹp. Ngay cả khi không có camera, bạn có thể thấy đây phương pháp xử dụng thoải mái, vì nó là cách đáng tin cậy để duy trì sự liên tục. Nếu bạn kéo theo sáu hay thậm chí tám người khác trong show của bạn vào follow spot, sẽ có rất nhiều cơ hội bị mắc lỗi cái gì đó. Bạn đừng trông chờ follow spot thực hiện bất cứ điều gì khác hơn là cho diễn viên ánh sáng chính (key, front light), thì tốt hơn!

----------------- Hết chương 06 ---------------



 

Add comment


GIÁO TRÌNH

CATALOG SCAN

Ai đang truy cập

We have 3 guests online
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay90
mod_vvisit_counterHôm qua623

Comment mới nhất

  • thienhungcaphe 21.08.2018 07:46
    Cám ơn rất hay, nhưng không thấy chương 6 ...

    Read more...

     
  • tanngoclighting 17.10.2014 00:33
    Ngoài ra, tuỳ thuộc theo từng hãng sản ...

    Read more...

     
  • tanngoclighting 17.10.2014 00:26
    Sorry Khi đọc về cấu tạo đèn Fresnel (hình ...

    Read more...

     
  • tanngoclighting 17.10.2014 00:14  
  • huonggiangcbe 11.10.2014 19:20
    Cháu đã gửi mail đăng ký một quyển ...

    Read more...