Sound&Lightingvn Documents

Hoàn thiện hơn nghệ thuật nghe nhìn...

  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size

Ánh sáng Ca nhạc & Chương 05

 

CHƯƠNG 05

Thiết kế Sân khấu

The Design Stage

 

 

Thiết kế ánh sáng ca nhạc đầu tiên của bạn có lẽ sẽ cho người tổ chức, trường học, hay ban nhạc địa phương. Giai đoạn này bạn đang xây dựng danh tiếng, và quan trọng hơn, xây dựng sự tự tin vào chính mình, thường đặt bạn vào nhiều loại show, nơi nghệ sĩ không có thiết bị lưu diễn và có thể có điều khoản rất sơ sài cho kế hoạch sân khấu (stage plan) (có thể không giống như những cái họ đang lưu diễn), và có thể một biểu đồ màu cơ bản. Thậm chí bạn có thể không được "gọi-call" từ ông bầu show, chỉ có việc mở màn.

Vì vậy, bạn phải làm gì? Đầu tiên, gặp người tổ chứchỏi xem có thể chi bao nhiêu cho việc thuê thiết bị. Thứ hai, xem xét cơ sở nơi bạn sẽ thực hiện show. Liệu nó có yêu cầu (hay hy vọng) nhiều follow spot không? Nếu không, bạn sẽ tốn tiền để thuê và phải trả lương cho người vận hành.

Thiết kế tốt nhất cho một show như vậy rất đơn giản, tiến từng bước, và cũng có lẽ là an toàn nhất, nhưng đó chỉ là thứ yếu. Ba hay bốn màu cho mỗi mạch đèn hậu (backlight) và đèn hông (sidelight) có vẻ như quá dễ dàng, nhưng đó mới chỉ là 80% những cái mà ca nhạc địa phương nhận được. Nếu bạn chắc chắn ngôi sao này sẽ ở chỗ micro, thêm một số backlight đặc biệt để tách biệt ông ta với ban nhạc. (Sau đây tôi sẽ cho xem một plan cơ bản cho hấu hết giàn khung (truss) hậu loại tháp treo ánh sáng hai bên (side tower lighting rig), loại tháp này sẽ lưu diễn cùng nghệ sĩ nhạc jazz hay country, thậm chí cho nhiều ban nhạc rock. Tôi đã thấy nhiều plan đơn giản như vậy được xử dụng rất sáng tạo.

Sự thật là, nếu bạn chọn màu chính xác, bạn có thể trộn lại và được bất kỳ màu nào bạn thích. Giai đoạn tiếp theo là thêm hiệu ứng đặc biệt hay dimmer nếu có thể. Thường xuyên, thiết kế làm xong rồi sẽ bị treo lên mà họ quên đi điểm quan trọng là thiết kế phải rõ ràng. Ngoài ra, có thể thêm vào nhiều hiệu ứng đặc biệt và máy chiếu, nhưng việc này đã vượt ra ngoài loại show chúng ta đang thảo luận ở đây.

Được rồi, chúng ta hãy lùi lại một bước, vì tôi chắc chắn bạn sẽ hỏi, "Có xài moving light không?". Hãy rất cẩn thận ở đây. Đầu tiên, sẽ mất một phần lớn túi tiền của bạn. Thứ hai, hãy tự hỏi bản thân: "Tôi thật sự có thời gian cho hình thức của show này không?". Tôi không có ý định ngăn cản bạn, nhưng để làm bạn tạm dừng trong một phút. Có, bạn muốn gây ấn tượng với người tổ chức, chủ sở hữu câu lạc bộ, và thậm chí cả ban nhạc ... nhưng giá cả là bao nhiêu? Nếu bạn không có thời gian để lập trình, show sẽ bị ảnh hưởng và bạn có thể bị xem là ngu ngốc trong mắt mọi người bạn đang cố gắng gây ấn tượng. Có thể khôn ngoan khi làm show đầu tiên của bạn cho một khách hàng mới rất đơn giản và bạn hãy tập trung vào những chuyện nhỏ. Điều đó thường gây ấn tượng hơn rất nhiều mà không đạt chuyện nhỏ.

Nhiều người thiết kế, những người đang đi lưu diễn với ban nhạc nhưng không các thiết bị đĩa CD đã lập trình trước, có thể sửa lại cho mỗi điểm diễn. Vài người có thể được nghệ sĩ trả tiền cho họ để thuê console ánh sáng có sẵn chương trình trong bộ nhớ, và có thể sẵn sàng lên đường. Một số thậm chí sẽ đi lưu diễn với vài moving light nhỏ để họ có thể treo thêm vào giàn khung và chương trình của họ sẽ ghi thêm vào console tại chỗ diễn.

Con ngựa thồ (Workhorse) của ánh sáng ca nhạc

Đèn parabolic aluminized reflector (PAR) medium flood (Med) là loại tốt nhất để làm đèn wash tổng quát. Nó có nhiều kích cỡ và công suất, nhưng nói chung, ca nhạc thường xử dụng đèn PAR-64 lớn nhất và công suất cao nhất (1000 watts). F(N) hay (VNSP) loại bóng đèn được xử dụng cho ánh sáng đặc biệt và nhấn mạnh. PAR 64 không dùng trong dân dụng nhưng (xem chương 18) loại đèn đáng tin cậy thông thường để xử dụng trong ánh sáng ca nhạc. Không xảy ra trục trặc và không có bộ phận nào có thể kẹt hay bể, thiết bị này cho ra ánh sáng hiệu quả nhất, có sẵn nguồn có thể dim được trên những sân khấu tiêu chuẩn và đèn làm phim. Đã hơn 45 năm, đèn PAR tiếp tục là nguồn sáng đáng tin cậy nhất cho ánh sáng "punch".

Hiệu quả và sẵn nhiều loại luồng sáng, PAR-64 nên được xem xét trong vài cách. Có vẻ như phải bận tâm đến hiệu quả vì nguồn điện phải đủ lớn thường có thể là vấn đề. Nếu bạn đang đi vào một nhà hát cũ hay phòng tập thể dục ở trường học, tự mình tiếp cận với nguồn điện có thể bị nhức đầu, do đó, bạn muốn ánh sáng thật sáng nhưng lại dùng càng ít năng lượng càng tốt. PAR phù hợp với điều này tốt nhất. Bóng đèn có luồng kín (sealed beam lamps) cho ra nhiều luồng sáng tỏa hẹp hơn đèn flood. Loại đèn này có thể cho những luồng sáng tập trung vào đối tượng dày đặc màu trên khoảng cách rất xa. Thí dụ, so sánh luồng 30-feet giữa bóng đèn PAR rất hẹp 3,7 x 6,4 feet và đèn flood trung bình 6,5 x 15,5 feet, đo ở cường độ 50%. Trong khi tại cđối tương, đèn 1-kW cho ra 560fc 150fc, tương ứng, ở khoảng cách đó so với đèn Fresnel 1-kW, chỉ có thể cho ra 195fc tại vòng sáng và 40fc tại tiêu điểm flood ở cùng khoảng cách. (fc = foot candle- ND).

Figure 05-01

Hình 05.01: Thí dụ về hiệu ứng air light.

Air light

Air light, thường gọi là đồ họa không khí (air graphic), đã trở thành thuật ngữ ngày càng phổ biến trong cuối thập niên 1970 và đầu thập niên 1980. Có cuộc chạy đua không chính thức trong phong trào lưu diễn nhạc rock để đạt được kỷ lục mới về ainhiều xe tải nhất trên tour lưu diễncách nhiều xe tải mang giàn khung, đèn và sân khấu ra sao. Vào lúc đó, Van Halen tự hào tuyên bố rằng họ đã thực hiện 1.300 bộ đèn, bao gồm tất cả đèn PAR và mỗi cái chiếu sáng 8 khán giả. Air graphics xuất hiện khi có rất nhiều sương mù (haze) trong không khí. chứa khói làm cho PAR luồng sáng hẹp bề mặt không khí cần thiết để chiếu luồng sáng từ 16 đến 24 feet trên sàn sân khấu, nhưng không làm sáng sân khấu hay phản chiếu ánh sáng. Khói đến nay vẫn được cho phép, và máy khói hay hazer chưa thực hiện cho đến giữa thập niên 1980. Tour lưu diễn trên sân vận động lớn đã tìm cách làm không khí mù mịt khói, và vài người thiết kế ánh sáng thậm chí còn yêu cầu tắt những thiết bị điều hòa không khí mạnh của cơ sở trước khi trình diễn, để có thể thấy được luồng sáng mập tròn. Đây là cách để tránh phải gắn nhiều hàng đèn hơn và càng nhiều hơn nữa để chiếu sáng những người biểu diễn, sân khấu, và air light đã trở thành cách thiết thực để tạo hiệu ứng thay đổi scene ánh sáng bằng cách xử dụng luồng sáng nhiều màu khác nhau và tạo ra sự chuyển động trong không khí. Người thiết kế bố trí nhiều dải ánh sáng hoàn toàn có hiệu ứng, và air graphic đã trở thành một phần lớn thiết kế tổng thể của nhiều tour lưu diễn và đặc biệt cho truyền hình. Cũng bởi thời điểm moving light ra đời trong đầu thập niên 1980, air graphic đã trở thành tinh vi hơn, và luồng sáng di chuyển trong không khí làm tăng phấn khích rất lớn do việc sáng tạo ra air light (hình 05.01).

Moving light (luminaire)

Một sự thay đổi lớn trong cách chúng ta nói về đèn sân khấu đã xảy ra gần đây. Trong nhiều năm, người ta đề cập về nó như là thiết bị để chiếu sáng. Thuật ngữ khá phổ biến hiện nay xử dụng từ “light” thay thế cho từ “luminaire”. Đây là từ Vari*Lite đặt tên cho đèn điều khiển bằng máy tính của họ, và nó đã nhập vào từ vựng của ngành giải trí. Gần đây, sách Essential Skills for Entertainment Technician của Entertainment Services Technology Association (ESTA, xem thảo luận về cấp giấy chứng nhận trong chương 2) đã thông qua việc thay thế từ bằng từ fixture (đồ đạc) để xác định tất cả thiết bị, không chỉ là moving light. Theo văn bản này, ngành công nghiệp này không hoàn toàn chấp nhận sự thay đổi này thời hạn lâu dài, nhưng chúng tôi tin rằng với sự chứng thực của Ủy ban thuật ngữ, sẽ bắt đầu được xử dụng bởi những kỹ thuật viên và người thiết kế trẻ.

Nếu có một lô moving light, bạn có thể làm tốt bằng cách xử dụng nhiều hơn nữa cho những việc thay đổi vị trí và màu sắc hay hoa văn hơn là chỉ flash hay thêm tiếng sizzle ở phần cuối hay cho ban nhạc. Có lần tôi đi xem show ca nhạc của Bruce Springsteen, thiết kế bởi Jeff Ravitz. Tôi đã biết ánh sáng này có cả moving light. Nhưng, khi xem show, tôi không thấy đèn nào chuyển động. Tôi thật sự nghĩ rằng show đã bị trục trặc cách nào đó. Sau đó, Bruce đã rời sân khấu khi bài hát gần chấm dứt, ánh sáng bùng nổ như nổi loạn về màu sắc và chuyển động. Không có lý do nàokhán giả sẽ không hoan nghênh và gọi ông trở lại, ngay cả khi ông không phải là "The Boss". Jeff đã xử dụng moving light để thay đổi màu, hoa văn, và vị trí khi họ không hiện diện do đó, mỗi bài hát có một cái nhìn khác nhau với lượng đèn tối thiểu, và ông để dành cho vụ nổ lớn cuối cùng. Điều đó cho thấy ông có tài tự quảng cáo tuyệt vời trên phần của mình.

Moving light dùng máy tính tràn ngập khắp nơi. Gần đây nhất, đã có hơn 35 hãng sàn xuất cho club những mô hình lưu diễn trên toàn thế giới.

Những lựa chọn đèn khác

Những lựa chọn khác là beam projectors (chiếu luồng), ellipsoidals - Lekos ellipsoidal reflector spotlights (ERS), hay, như những công ty Úc, Anh, và châu Âu gọi nó là profile spots (xem chương 18). Fresnels cũng có thể dùng được, cũng như nhiều loại striplights và loại đèn được thiết kế bằng nhiều bóng đèn PAR. Gần đây, nguồn ánh sáng mới là diode phát sáng (LED) đã cho chúng ta một thể loại ánh sáng hoàn toàn mới, có nhiều thiết bị đèn kỹ thuật số có thể hiển thị hình ảnh cũng như màu sắc. Beam projectors, cũng là loại đèn mở mặt, không chỉ hoạt động giống như PAR-64, nhưng yếu tố hiệu quả rất thấp (xem chương 18).

Những đèn ERS hay ellipsoidal ít đi lưu diễn nhưng được ưa thích trong nhà hát, nhưng chúng ta đang thấy nó được xử dụng ngày càng nhiều cho ánh sáng ca nhạc. Vài người nghĩ tác giả có thể thiên về loại đèn lớn nhất này. Tôi đã từng làm tour lưu diễn với hơn 180 ellipsoidal và chỉ có 4 đèn PAR-64. Điều này đòi hỏi sự tự tin mức độ cao về thiết kế của bạn, tuy nhiên, điều này là đúng chỉ khi bạn có một show mà bạn không tự tin rằng tài năng mình sẽ tác động đến diễn tập. Nghệ sĩ không thể cho ý kiến làm tổn hại thiết kế của bạn, họ đang lãng phí tiền bạc của họ. Nếu không thể nhìn thấy hiệu quả vì họ không có khả năng phù hợp với chuyển động của , rồi sau đó, đèn và hành lý vượt quá nhu cầu vì quá nhiều. Electronic Theatre Controls (ETC), Inc, là công ty đầu tiên mang đến cuộc cách mạng cho đèn ellipsoidal tiêu chuẩn dùng thủy ngân (Hg) vào năm 1992. Strand Lighting và những công ty khác tiếp sau đó với những phiên bản của mình. Khái niệm của ETC là dùng thiết kế ống kính mới cho thiết kế đèn mới. ng kính sắc nét hơn, có quang sai ít, màng trập bén cạnh và trong hơn. Moving light cũng có thể chiếu hình mẫu (gobos), hay bạn có thể chọn ống kính nhiều loại luồng sáng hay thậm chí thêm iris để thu hẹp luồng sáng. Vì vậy, hãy xem xét sự khác biệt về chi phí. Nếu bạn muốn xử dụng mô hình nhiều lần, tại sao phải ràng buộc với moving light?

Đèn Fresnel không có mặt trong thị trường ca nhạc vì trọng lượng và hiệu quả hơi hạn chế của nó. Đèn khác bao gồm phim Mini-Brute, một ứng dụng cho đèn PAR trước đây, được thiết kế để làm ánh sáng phủ rộng cho phim và vị trí quay. Đèn Fresnel Mercury medium-arc iodide (HMI) không thấy xử dụng đặc biệt nào lâu nay. Nói chung, bạn sẽ thấy rằng hãng sn xuất thiết bị cho ca nhạc đã cho ra thiết kế riêng của họ, như việc quy tụ nhiều PAR-36 vào một đèn duy nhất, thường xử dụng như đèn khán giả (xem chương 18). Một biến thể khác của đèn khán giả, tạo ra bởi Doug Brant và Justin Collie của Artfag LLC, có đèn strobe nằm trong, nó được gọi là Litepod và được sản xuất bởi Wybron, Inc (xem chương 18). Trong thiết kế cuối cùng, hầu như bóng đèn nào cũng xài được nếu thiết kế có tầm nhìn để thấy những hiệu ứngcho ra và có thể xử dụng nó cho phù hợp. Luôn ghi nhớ, công cụ hay hiệu ứng phải hoạt động hằng đêm. Không có gì tệ hơn khi nghệ sĩ đã đến hiệu ứng không hoạt động.

Bố trí ánh sáng

Ánh sáng ca nhạc ngược với hướng xử dụng cơ bản trong nhà hát. Trong khi sân khấu đặt tầm quan trọng lớn trên đèn mặt (frontlight) và đèn hậu (backlight), nhưng cho ca nhạc lại đảo ngược khái niệm này hoàn toàn. Hai yếu tố chịu trách nhiệm cho việc này. Trước hết, có ít hay không có khả năng được cho phép dùng vị trí ban công hay front-of-house (FOH) để thực hiện tour lưu diễn ca nhạc mà chỉ dựa vào 30 hay 40 khoảng trống (khoảng trống được xử dụng nhưng không được thiết kế đặc biệt làm khu vực biểu diễn). Thứ hai, ánh sáng ca nhạc được coi như chỉ cho ra những hiệu ứng và nhấn mạnh chứ không chức năng hiển thị mặt người như sân khấu. Vì vậy, ý tưởng là chỉ cần thực hiện ánh sáng frontlight bằng một hay hai follow spot và tập trung ánh sáng cố định vào việc tạo ra những hiệu ứng đặc biệt và màu bổ sung cho đèn wash sân khấu, mô hình rời rạc, và backlight để bao quanh ca sĩ hay nhạc công bằng màu sắc.

Cách xử dụng backlight này được gọi là ánh sáng nhấn mạnh (accent lighting), để phân biệt với phong cách sân khấu. Ánh sáng tập trung tại những điểm chiến lược trên sân khấu để ngắt quãng âm nhạc bằng gam màu sẫm (deep). Phương pháp chiếu sáng này thật phù hợp với châm ngôn: “Chỗ đó không phải là nơi bạn chiếu sáng, chỗ mà bạn không chiếu sáng mớicái quan trọng.

Hãy nhớ, những nỗ lực thiết kế của bạn sẽ cho bạn thiết kế tốt không quá trớn. Quá nhiều show dùng 200 bộ đèn khi 100 đủ làm được. Tôi có một vấn đề với một nhóm muốn tôi thêm đèn nhiều hơn cho tour bởi vì họ đã cắt giảm bối cảnh. Logic của họ là nếu có ít bối cảnh, thì có thể lấp đầy những chỗ trống bằng nhiều đèn hơn. Sai. Bạn không thể làm sáng lên những cái không hữu hình, ngoại trừ xử dụng air light. Tôi đã có đủ lượng đèn trong sơ đồ để chiếu sáng ban nhạc và không muốn bất cứ cáinữa ngoại trừ những hiệu ứng và chiếu sáng, nhưng họ đã loại bỏ những cái tôi cần là bề mặt để chiếu vào nó.

Số lượng và vị trí của đèn phải trực tiếp liên quan đến vị trí của ban nhạc và vocal. Sẽ bất hợp lý, nếu người quản lý yêu cầu 80 đèn, hay 200 đèn, cho khách hàng của mình, câu trả lời tiêu chuẩn của tôi là, "Được rồi, tôi sẽ xử dụng đúng ngân sách, nhưng tôi phải biết nhu cầu của người nghệ sĩ nhiều hơn". Tôi thấy không có lý do nào để thuê 80 (hay 200) đèn và sau đó phải cố gắng tìm ra những gì để làm với , nhưng tôi đã gặp chuyện này nhiều lần.

Những mẫu thiết kế hiệu quả nhất tôi thấy, đã xử dụng ít đèn hơn. Thời gian gọi cue, việc lựa chọn màu, và tổ chức hiệu ứng, còn tốt hơn thêm đèn bổ sung. Thiết kế giỏi trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng không nên dựa trên số lượng.

Màu sắc

Trong thiết kế của riêng tôi, tôi cố gắng suy nghĩ về màu sắc, chứ không về số lượng đèn, trước khi tôi bắt đầu vẽ sơ đồ ánh sáng. Những gì tôi đang cố gắng đặt hình ảnh trong đầu tôi là ngoại hình, lên kế hoạch cho mô hình (pattern) định hướng ánh sáng và màu sẽ xử dụng một hay nhiều lần trong suốt show. Thuật ngữ này có vẻ bắt đầu như thuật ngữ của truyền hình, nhưng bây giờ hầu hết người thiết kế đều xử dụng nó để mô tả những mô hình tạo ra bằng ánh sáng.

Màu sắc primarysecondary nói chung là tốt nhất. Đối với sơ đồ chung, hãy thử cho bốn màu cho đèn sidelight và năm màu cộng với màu trắng cho backlight trên nghệ sĩ chính. Ban nhạc thường được bốn màu cho backwashes và ba màu cho sidelight, cộng với hai backlight đặc biệt - 1 màu ấm và 1 màu mát, như filter Lee # 105 (màu cam) và # 137 (màu hoa oải hương đặc biệt- special lavender-màu gần như tím đục-ND)để nhấn mạnh khúc solo của họ. Tôi không muốn xử dụng followspot vào thời điểm guitar nghỉ ngắn. Đèn backlight nóng đẹp đâm xuyên qua bóng tối, trong khi đó, dò followspot theo ca sĩ, có thể rất hiệu quả. Khi tôi có thể vẽ được màu đặc biệt mặt trước vào thiết kế, tôi thêm màu đặc biệt ấm và mát vào mỗi người chơi solo, cộng với ít nhất hai đèn wash vào mặt trước hay trên đầu ban nhạc.

Màu khác khác nhau ảnh hưởng đến thị giác của khán giả của âm nhạc ra sao là chìa khóa để người thiết kế giải thích âm nhạc như thế đó. Bạn nên đọc những sách giáo khoa ánh sáng sân khấu, đã in những thảo luận đầy đủ về ánh sáng và mắt người. Cuốn sách ưa thích của tôi về chủ đề cụ thể của cách nhận ánh sáng và giải thích như thế nào là cuốn The Beauty of Light, của Ben Bova, mặc dù hiện nó đang đình bản.

Mạch (circuiting) và Dimming

Đèn bổ sung đều có sẵn dimming, ngoại trừ đèn HMI. Nó hợp thời cho người thiết kế không bận tâm đến những chuyện vặt vãnh như vậy. Rốt cuộc, bạn có thể đã được dạy phải để chuyện đó cho thợ điện hay thợ cả của bạn, tuy nhiên, thật tế cho rằng sự sẵn có thiết bị này thường buộc bạn phải chọn lựa chọn bộ dimmer, thường có sáu channel công suất cụ thể: 2,4 kW hay 6kW. Không có nhiều dimmers loại 3,6-kW, 8 kW-hay 12-kW trên tour lưu diễn. Dimmers 1-kW thường được đóng gói trong những nhóm lớn hơn, số lượng phổ biến là 72 dimmer trong mỗi rack (xem chương 12). Luôn để lại vài dimmers không xử dụng, để nếu và khi có cái nào bị hư, bạn có thể sắp xếp những channel lại. Tốt hơn, để lại hai dimmers công suất lớn nhất làm dự phòng ở nơi đầu tiên.

Xếp lớp (layering)

Bên cạnh vị trí cơ bản và góc độ, xem xét ý tưởng cho hầu hết hình ảnh trong đầu bạn: không giới hạn. Đây là quy trình tạo ra chiều sâu và tách biệt bằng cách xử dụng những sắc thái, độ bão hòa màu khác nhau. Ngoại trừ cho hiệu ứng, tôi hiếm khi tắm sân khấu trong một màu duy nhất ngoại trừ giữa những bài hát. Điều đó làm không có chiều sâu thị giác. Với việc xem xét ý thức về màu sắc, cùng cường độ, bạn không chỉ có thể hướng sự chú ý của khán giả vào một phần cụ thể của sân khấu nhưng bạn cũng có thể đặt toàn sân khấu theo quan điểm của bạn. Rất thường, tôi thấy nhiều show dựa hoàn toàn vào followspot, với trục ấn tượng ánh sáng rực rỡ, để hoàn thành nhiệm vụ này. Đó là cách dễ, nhưng nhàm chán. Nguồn ánh sáng là quan trọng, nhưng là loại màu và sắc thái màu xử dụng trên sân khấu. Nhiều độc giả tin rằng họ có để đặt rất nhiều màu trên sân khấu cùng lúc, nhưng nếu cho hiệu ứng phức tạp hơn bạn có thể sắp lớp một màu duy nhất bằng sự thay đổi màu. Ngoài ra, đừng quên rằng sự vắng mặt ánh sáng cũng góp phần tạo nên hiệu quả tổng thể.

Lần đầu tiên tôi nhận ra ý tưởng này có thể quan trọng khi làm ánh sáng truyền hình trước đây. Trong video, camera không thể hiển thị độ sâu của khu vực, đạo diễn ánh sáng phải làm nổi bật chiều sâu bằng phương tiện backlight và sự khác biệt cường độ giữa cận cảnh (foreground)hậu cảnh (background). Phương pháp tương tự có thể áp dụng cho ca nhạc khi khán giả có thể cách sân khấu xa 150 feet. Trong nhà hát, việc chia lớp có thể được áp dụng để thu hút sự chú ý vào phần riêng biệt sân khấu. Ở đây, một lần nữa, không chỉ là sự lựa chọn đèn và góc độ mà còn là sự pha trộn giữa các màu bạn đang xử dụng, có thể làm cho thiết kế, tốt rõ ràng hơn.

Bản vẽ và Ký hiệu (Layout and Symbol)

Sợ ai nghĩ bản vẽ sơ đồ thiết kế ánh sáng đã hoàn tất, hãy để tôi nói về bước tiếp theo trong cách tiếp cận thiết kế của tôi. Tôi thường ngạc nhiên trước máy tính hỗ trợ vẽ (computer-aided drawing-CAD) sơ đồ ánh sáng rất đẹp, để rồi bị thất vọng bởi việc thực hiện show. Mặt khác, tôi thường thấy sơ đồ ánh sáng vẽ nguệch ngoạc trên giấy kẻ hay phong bì những phương ngôn thú vị và hiển thị phong cách tuyệt vời, tuy nhiên, ngay cả trong hoàn cảnh không thể thực hiện đúng việc chuẩn bị, thêm nỗ lực và thời gian lãng phí để giải thích bản vẽ thô sơ như vậy có thể không được ủng hộ. Thiết kế còn thiếu kỹ thuật để hiểu thật rõ và hướng dẫn chính xác, và họ truyền đạt bằng vẽ sơ đồ ánh sáng đúng cách. Hình 05.02 cho một thí dụ về sơ đồ ánh sáng ca nhạc cho lễ hội; nó không tuân theo quy tắc bố trí của Mỹ nhưng khá hiệu quả để thiết kế trong tour.

Figure 05-02

 

Hình 05.02: Sơ đồ ánh sáng cho Sweden Rock (2008). (Thiết kế Peter Johanssen.)

Khi bạn nghiên cứu ánh sáng sân khấu, sẽ biết rõ có vài trường phái tư tưởng liên quan đến kỹ thuật. Vài phong cách đưa ra bởi nhiều giáo viên tại một tổ chức học tập cụ thể, hay bạn có thể tìm hiểu cái gọi là phương pháp Broadway được duy trì bởi USA/IATSE. Phong cách Broadway chiếm ưu thế, nhưng vài người thiết kế bờ Tây đã làm thay đổi, phản ánh một tư duy cởi mở hơn. (Hãy nhớ rằng, nếu muốn thực hành nghề nghiệp trên sân khấu Broadway, bạn sẽ cần phải tìm hiểu nó theo yêu cầu của kỳ thi). Thêm vào phong cách thiết kế đặc trưng của trường phái Anh nhập vào Mỹ và bạn có một hệ thống tiến triển không ai có thể phủ nhận. The United States Institute for Theatre Technology (USITT) mất nhiều năm để thống nhất về biểu tượng tiêu chuẩn cho những công cụ ánh sáng.

Nhiều người thiết kế cho ca nhạc và thậm chí cho nhà hát thành công, chưa bao giờ đi học chính thức (coi chương 23, nơi bốn người thiết kế hàng đầu nói về chuyện học tập của họ). Tất cả mọi người sẽ thành công hay thất bại dựa trên những gì họ đưa ra, không có một phương pháp làm việc nào chung cho tất cả mọi người. Đây là lĩnh vực rất sáng tạo, luôn giải thưởng cho phong cách và sự khéo léo. Một phần người thiết kế không được đào tạo bài bản và do đó không biết các quy tắc thành lập, họ có khuynh hướng đơn giản hóa bản vẽ để bất cứ ai cũng có thể hiểu màu, circuit, và điều khiển channel trong nháy mắt. Sự khác biệt chính giữa hai phong cách bản vẽ (truyền thống so với hiện đại) có thể được phân loại như sau:

1. Template (mẫu) - Phương pháp truyền thống xử dụng những biểu tượng (ký hiệu-symbol) cả bên trên lẫn hai bên, trong khi người thiết kế cho ca nhạc chỉ xử dụng các biểu tượng trên hay thậm chí bằng những vòng tròn đơn giản.

2. Biểu đồ nối điện - Theo truyền thống, biểu đồ này tương tự như bản vẽ kỹ thuật điện, khi vẽ một line cho tất cả đèn của một mạch. Thiết kế cho ca nhạc có khuynh hướng xử dụng chữ số bên trong biểu tượng đại diện cho bảng nối dây (patch).

3. Trình bày - Bờ Đông, hay truyền thống, xử dụng phương pháp có mỗi trang giấy riêng cho từng chi tiết khác nhau cần thiết để hoàn thành việc thiết kế. Cách tiếp cận của ca nhạc và Las Vegas là bao gồm tất cả các thông tin trên một trang giấy.

Nhiều năm qua, tôi đã phát triển một phương pháp, thậm chí tôi tin rằng rõ ràng hơn. Vài biến thể của phương pháp này có thể thấy trên nhiều sơ đồ ánh sáng ca nhạc. Bản vẽ ánh sáng hiển thị trong hình 5.3 là của REO Speedwagon, một tour lưu diễn năm 2008 có tất cả thông tin trên một trang giấy, cần thiết để thực hiện việc gắn màu và treo thiết bị cho show.

Figure 05-03

            Hình 05.03:

Sơ đồ 2 sào treo ánh sáng show REO Speedwagon (2008). (Thiết kế bởi Paul Dexter)

Tôi đã luôn có vấn đề về in chữ số sao cho rõ ràng trên bản vẽ, đặc biệt là khi cố bố trí tất cả số màu, số circuit, và số channel cùng chỗ. Mặc dù chương trình CAD sẽ loại bỏ vấn đề này, một động thái hướng tới việc thêm các ký hiệu khác cho bản vẽ, được thành lập trên ý tưởng, xử dụng bởi Len Rader, trong nhiều năm là thợ điện trưởng tại khách sạn MGM Grand, Las Vegas. Mỗi sơ đồ ánh sáng đến với ông đều khác nhau, và ông ấy nói đã bị lãng phí rất nhiều thời gi để giảng cho đội kỹ thuật hiểu sơ đồ vẽ cái gì. Vì vậy, ông bắt đầu vẽ lại sơ đồsave nó thành file để khi các nghệ sĩ trở về coi lại sẽ đơn giản hơn nhiều. Trên một trang giấy, ông đã có những circuit, chỉ định dimmer, và màu trong dạng thức tất cả đội kỹ thuật của ông ta có thể hiểu được. Tôi thích dạng thức của mình, mà tôi thấy dễ hiểu, và tôi bắt đầu xử dụng phong cách này trên toàn thế giới với thành công lớn. Sơ đồ (plot) hiển thị trong hình 5.4 là show Las Vegas với Smokey Robinson.

Figure 05-04

            Hình 05.04:

Sơ đồ ánh sáng cho Smokey Robinson. (Thiết kế bởi James Moody)

Hình chữ nhật (biểu tượng cho số circuit-mạch) đằng sau biểu tượng đèn sẽ để trống. Khi show đi lưu diễn không dimmers, nó phải được để nhà để gán dimmers vào nó. Mạch trong nhà hiện tại được phân công cho thợ điện giỏi nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc treo cụ thể trong nhà. Đèn ánh sáng được chĩa theo hướng focus theo ý muốn thay vì chĩa thẳng side-by-side, theo quy tắc ở Mỹ và phương pháp truyền thống đòi hỏi. Điểm đánh dấu 5-feet cho phép tham khảo nhanh đến vị trí đèn dọc theo đường ống.

Như đã đề cập, chương trình CAD làm bản vẽ thêm rõ ràng. Có nhiều chương trình CAD. Một số thiết kế đặc biệt cho sân khấu, vài cái khác cho ca nhạc và sự kiện hay ngay cả kiến trúc. VectorWorks Nemetschek, North America, Inc, chắc chắn là phần mềm phổ biến nhất trong Broadway, nhà hát, và thiết kế ca nhạc. Mặc dù bạn sẽ phát triển cái gì mình thích, tất cả chương trình như vậy đều thể liên kết với nhau. Công việc có thể thay đổi hết lần này đến lần khác mà không bắt đầu lại. Điều này đã tạo sự bùng nổ cho người thiết kế, những người cần phải thực hiện vài phiên bản bản vẽ cho tour lưu diễn. Thảo luận đầy đủ hơn về những chương trình CAD được trình bày trong chương 21.

Treo

Bước cuối cùng trong thiết kế của bạn không phải là quyết định có nên gắn những bộ đèn trên một đường ống hay trên một giàn khung treo sẵn (prerigged truss). Những gì thấy tốt trên giấy có thể là rác trong không gian. Là người thiết kế, bạn không chỉ phải làm việc chặt chẽ với hãng cung cấp để họ thực hiện chính xác thiết kế, nhưng cũng phải được mở rộng cho những đề xuất liên quan đến sự thay đổi sẽ hoàn thiện khả năng treo lại, đóng gói, và focus trong tour diễn. Nếu chỉ treo một lần, phải nghĩ ra cách truy cập vào bộ đèn bởi bối cảnh hay vị trí ban nhạc. Sẽ quá muộn khi load-in mới bắt đầu thử giải quyết một vấn đề chủ yếu. Có thể khôn ngoan nếu xử dụng giàn khung (truss) để focus đèn bằng cách đi hay bò trên (với hệ thống bảo vệ té ngã thích hợp, xem chương 9). Hạn chế mạch điện có sẵn, màn treo, và chiều cao bộ trang trí, tất cả phải được xem xét trước. Tôi không bao giờ rời khỏi nhà hát trong thời điểm load-in trong đêm. Thiết kế không chu đáo trong quy trình treo đèn gây tai hại lớn cho bản thân và những thành viên và cho thấy sự thiếu tôn trọng đối với những nỗ lực của đội kỹ thuật vì lợi ích cho show.

Thường thì nhân viên hậu đài (stagehand) sẽ có ý kiến giúp đơn giản hóa việc treo đèn (rigging)hướng tập trung (focus). Giống như săn bắn hay câu, người dân địa phương biết rành rừng và chỗ câu cá tốt nhất. Người thiết kế phải có cái đầu mở để gợi ý và không bảo thủ. Việc này không chỉ giúp đội kỹ thuật cảm thấy mình là một phần của show bởi bạn lắng nghe ý kiến của họ, nhưng cũng cho thấy ý thức của bạn để biết rằng một người nào khác có thể xem xét vấn đề và có thể đưa ra một giải pháp tốt hơn.

Sơ đồ ánh sáng mẫu

Sơ đồ ánh sáng hiển thị trong hình 05.5 minh họa một thiết lập cho ban nhạc rock & roll điển hình. Nó được tạo thành bởi tất cả loại đèn ánh sáng thông thường và không có moving light. Thay thế keyboard bằng guitar thép (steel), bạn sẽ có một ban nhạc country, thậm chí có thể cho nhóm nhạc jazz. Giàn khung sau và thiết kế tháp cột sidelight là điểm khởi đầu cho tất cả các thiết kế ca nhạc. Đèn backlight cực mạnh là thương hiệu của ánh sáng ca nhạc.

Đèn wash backlight cho ban nhạc có thể chia ra để tách biệt tay trống, khi không có backlight đặc biệt (special). Vài người chia đèn sidelight trái và phải họ có thể có, thí dụ, đèn sidelight đỏ từ bên trái sân khấu và màu hổ phách (amber) từ bên phải sân khấu. Các yếu tố để điều khiển thật sự là số lượng dimmers đã có.

Một ý tưởng khác để điều khiển số đèn này sẽ là:

■ 4 đèn wash cho ban nhạc (4 đèn mỗi)

■ 4 đèn special cho tay trống (1 đèn mỗi)

■ 6 đèn special cho ban nhạc (1 đèn mỗi)

■ 6 đèn backlight special cho vocal chính (1 đèn mỗi)

■ 8 đèn wash sidelight cho ban nhạc (2 đèn mỗi)

■ 8 đèn wash sidelight cho vocal chính (2 đèn mỗi)

■ 36 channel controll tổng cộng

Số lượng đèn trên đều chiếu vào đỉnh đầu. Hầu hết console đều có 24, 36, 48, 60, 72, hay 96 controll channel. Tôi nhấn mạnh phải có dimmers dự phòngcontroll channel dự phòng trên đường lưu diễn. Bằng cách đó bạn có thể điều chỉnh lại ở phút cuối cùng nếu channel dimmer hay controll bị hư. Tôi cũng phải chắc chắn đã ghi nhớ, trước tour lưu diễn, đã kiểm tra những gì tôi đã yêu cầu để giải quyết vấn đề.

Sự chuẩn bị rất quan trọng. Xử dụng sơ đồ này là một thí dụ, trước hết, tôi sẽ cấp điện cho mạch đèn sidelight, và sau đó tôi sẽ lập nhóm đèn backlight trống vào đèn wash ban nhạc. Trong cả hai trường hợp, năng lực dimmer phải đủ cao để chấp nhận tải bổ sung này, và re-planning có thể bao gồm điểm đó. Luôn có vài loại dimmer có thể chấp nhận tải này. Nếu bạn có vài moving light thêm vào sơ đồ này, bạn nên nghĩ ra có thể bù đắp cho cái gì nếu bị hư một đèn thông thường quan trọng.

Figure 05-05

            Hình 05.05: Sơ đồ ành sáng ca nhạc cơ bản. (Thiết kế bởi James Moody)

Những màu tôi sẽ chọn để thay đổi sau đây, tùy thuộc vào việc ca sĩ chính là nam hay nữ và thậm chí cho dù họ là là người da đen, nâu, hay trắng. Không đi sâu vào lý thuyết màu sắc cơ bản vì nó chỉ áp dụng cho ánh sáng sân khấu, phải hiểu rằng bất kỳ màu nào (thật sự là sự thiếu vắng một phần quang phổ thấy được) chiếu lên một màu khác nào đó, sẽ ảnh hưởng đến cách mắt người cảm nhận màu ra sao. Vì vậy, người thiết kế phải nhạy cảm với màu da để chiếu sáng hiệu quả nhất cho các nghệ sĩ. Biểu đồ màu sau đây sẽ là điểm bắt đầu chấp nhận được đối với hầu hết tác động. Lưu ý, tôi không chỉ định những màu cụ thể. Tại thời điểm này, chúng ta đang quan tâm đến hình ảnh bao quát nhiều hơn, số màu chính xác chưa quan trọng:

Backlight cho ban nhạc và trống

Đỏ

Xanh  

Vàng chanh  

Lục

Đèn backlight special cho ban nhạc

Hồng sáng hay vàng chanh  

Lavender hay hồng mặt trời mọc

Đèn sidelight cho ban nhạc  

Vàng  

Xanh  

Xanh / Lục  

Lavender (Hoa oải hương-gần như màu tím đục-ND)

Đèn backlight cho vocal chính

Đỏ  

Vàng chanh  

Xanh sáng 

Lavender

Magenta (tím đỏ-ND)

Không màu (trắng)

Đèn sidelight cho vocal chính

Đỏ  

Vàng  

Xanh  

Lavender

Không màu (trắng)

 

Đổi màu, moving light và hiệu ứng                                                                                             Color Changers, Moving Luminaire, and Effects

Vài loại đổi màu (loại cuộn có thể cho ra 6 đến 32 màu) có thể cho người thiết kế giỏi dễ thực hiện, ngay cả sơ đồ đơn giản, cũng linh hoạt hơn. (Đổi màu sẽ thảo luận thêm trong chương 18). Loại kết hợp màu đa dạng này mang đến cho thiết kế nhiều thuận lợi hơn trên đường lưu diễn, hơn tăng lượng đèn và dimmer lên, nhưng chỉ đạt hiệu quả tương tự. Hãy nhớ rằng chỗ trống khi vận chuyển rất quan trọng.

Moving lightfollow spots gắn trên giàn khung (truss) cũng có thể tăng sự linh hoạt cho hệ thống mà không làm tăng cấu hình vật lý của giàn khung. Cũng có thể thêm sự hấp dẫn lôi cuốn từ bố cục, thậm chí loại đơn giản có thể xử dụng ngày càng nhiều hơn nữa. Chỉ thêm đồ chơi sau khi bạn đã làm chủ được sơ đồ đơn giản hay bạn đã nghĩ nó trong đầu bạn. Thêm sự phức tạp có thể thêm sai lầm, và thời điểm bạn đưa ra quyết định có thể là thảm họa.

Sự biến đổi (Variable)

Ánh sáng mê hoặc tôi bởi vì nó không bao giờ giống nhau đến hai lần, thậm chí với độ tin cậy của console máy tính. Bầu không khí thay đổi từ phòng này sang phòng khác, và nhận thức của mọi người hơi bị thay đổi. Khói trong night-club hay sân khấu ca nhạc khiến cho ánh sáng nổi bật hơn. Ánh sáng từ những dấu hiệu chỉ lối ra, nến gắn trên bảng có thể thay đổi độ tối (black level, theo cách gọi của TV) từ show này sang show khác.

Biến thiên khác là điện áp cho đèn, sự thay đổi vị trí và độ cao. Khi bạn chuyển show sang phòng khác, điện áp có thể thay đổi. Không hội trường nào điện thế chính xác 120 volts, nó thường thay đổi giữa 108 và 120 volt, và sau đó khi đưa vào dimmers nó sẽ mất thêm 2 đến 4 volt nữa. Dây điện cho đèn dài 50 đến 100 feet, và hiếm có 120 volt trên tim đèn. Vì vậy, nhiệt độ màu thay đổi mỗi ngày, và màu sẽ không chính xác như kế hoạch. Với nhiều màu, điều này sẽ có nghĩa là màu sẽ thay đổi rõ rệt.

Hạ giàn khung (truss) hay giàn upstage và downstage xung vài feet sẽ có sự khác biệt trong góc độ mà tại đó ánh sáng sẽ chiếu vào người biểu diễn, điều này làm thay đổi độ bóng và tương phản ánh sáng. Biến khác là việc bố trí follow spot từ nhiều phòng khác nhau. Nó chiếu thẳng vào hay ở góc 45-độ đến nghệ sĩ? Mỗi biến đổi này sẽ tạo sự khác biệt từ show này sang show khác và kế hoạch thay thế phải được xem xét trước.

Figure 05-06

Hình 05.06

 

Lời khuyên cuối: Thử nghiệm, thử nghiệm thử nghiệm. Tôi đã làm như vậy, ngay cả với show đã đi lưu diễn rồi. Nếu tôi điều khiển console, tôi có thể thử những điều khác nhau. Nếu bạn không chắc khách hàng của bạn sẽ phản ứng với những thay đổi không báo trước ra sao, bạn có thể thực hiện việc thay đổi này khi soundcheck để phản ứng trước khi thêm vào chương trình. Đôi khi nó tốt hơn, đôi khi chưa ngả ngũ ra sao, và thường nó bị tồi tệ hơn so với ý tưởng ban đầu. Nhưng, tôi vẫn thử và tôi sẽ tiếp tục thử nghiệm hoài để mang lại sự rõ ràng và xác định cho thiết kế của tôi.

Mười hai người thiết kế (Twelve designers ? –ND) có thể lấy thí dụ trong hình 05.06 và tạo ra 100 kiểu khác nhau. Điều đó kích thích tôi, và tôi nghĩ rằng ánh sáng ca nhạc giải phóng trí tưởng tượng sáng tạo cũng như nhà hát. Chúng ta phải lấy 50 nghệ sĩ, tất cả đều biểu diễn với dàn dựng tương tự nhau, và làm cho mỗi cái có tầm nhìn khác nhau.

Thiết kế phức tạp hơn

Sau khi bạn đã thành thạo trong việc thực hiện sơ đồ đơn giản, dễ hiểu, bạn có thể chuyển sang vài mẫu thiết kế hoành tráng hơn. Đây là lĩnh vực thiết kế có niềm tin yêu mãnh liệt, yêu tàn bạo vô nhân đạo (từ trong tự điển Lạc Việt 2010-ND). Tự do sáng tạo bắt đầu với những cấu trúc bạn thiết kế. Giàn khung có tất cả kích cỡ, hình dạng, và khả năng chịu tải. Tại thời điểm này, chỉ nghĩ đơn giản về những mô hình hình học và thiết kế. Những thí dụ trong hình 05.06 chỉ là vài ý tưởng cơ bản để có thể lập lưới khung. Hơn cả việc tạo ra thiết kế đẹp, mục tiêu là chọn những góc độ ánh sáng tạo ra tâm trạng và kịch tính.

Mặc dù có giới hạn thật tế về khả năng chịu tải, tôi đã thấy nhiều giàn khung có cấu trúc nghịch lý. Trong chương 13, tôi sẽ cung cấp những thông tin kỹ thuật cần thiết để giúp bạn quyết định chọn bố cục giàn khung sau cùng. Tôi cảnh báo, trước khi gắn bó với thiết kế, hãy tham khảo ý kiến với chuyên viên về treo (rig) hay ít nhất là người cung cấp ánh sáng, để họ cho lời khuyên về cách có thể thực hiện ước mơ của bạn như thế nào. Tuy nhiên, thảo luận ở giai đoạn thiết kế mộc mạc này, bạn có thể thấy cách cấu trúc trở thành yếu tố tầm nhìn thật sự ra sao. Lưu ý rằng, hầu như tất cả hệ thống lưu diễn, cấu trúc sẽ ở trong tầm nhìn của khán giả. Bố cục của cấu trúc phải làm sao có thể vừa thiết thực lại vừa mỹ quan cho show của bạn.

-------------- Hết chương 05 -------------

 



 

Add comment


GIÁO TRÌNH

CATALOG SCAN

Ai đang truy cập

We have 6 guests online
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay72
mod_vvisit_counterHôm qua623

Comment mới nhất

  • thienhungcaphe 21.08.2018 07:46
    Cám ơn rất hay, nhưng không thấy chương 6 ...

    Read more...

     
  • tanngoclighting 17.10.2014 00:33
    Ngoài ra, tuỳ thuộc theo từng hãng sản ...

    Read more...

     
  • tanngoclighting 17.10.2014 00:26
    Sorry Khi đọc về cấu tạo đèn Fresnel (hình ...

    Read more...

     
  • tanngoclighting 17.10.2014 00:14  
  • huonggiangcbe 11.10.2014 19:20
    Cháu đã gửi mail đăng ký một quyển ...

    Read more...