Sound&Lightingvn Documents

Hoàn thiện hơn nghệ thuật nghe nhìn...

  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size

Hệ thống âm thanh: Thiết kế và tối ưu hóa & Giới thiệu

E-mail Print PDF

Giới thiệu

Sau khi bạn đã đọc xong 2 cuốn sách AT tôi đã đăng trong web này, nếu hiểu được trên 70% thì bạn đã có kiến thức khá rồi đó. Nếu còn thiếu, mới bạn đọc tiếp cuốn thứ 3, sách này mới đúng là pro-sound, không dành cho người yếu tim, mới lơ mơ bước vào lĩnh vực này.

Hệ thống Âm thanh: Thiết kế và Tối ưu hóa, ấn bản thứ III, xuất bản năm 2016, tác giả là Bob McCarthy, kỹ thuật trưởng của công ty Meyer Sound danh tiếng toàn cầu. Chỉ bấy nhiêu thôi là bạn cũng biết giá trị của nó rồi.

Trong này không nhắc lại những kỹ thuật đã trình bày trong 2 cuốn sách kia nữa. Sẽ không giới thiệu về cách điều chỉnh, thiết bị, thương hiệu, model nào cả. Kỹ thuật và công cụ hiện đại cho thiết kế và sắp xếp hệ thống âm thanh chính là slogan của sách này.

Vì ngôn ngữ Việt vẫn khiếm khuyết, không thể dịch đúng những thuật ngữ kỹ thuật tiếng Anh cho chính xác. Thí dụ, tiếng Anh có 4 từ: Audio, Sound, Acoustic, Sonic mà tự điển Anh-Việt nào cũng dịch ra chung một từ là Âm thanh. Huống chi trong sách này sẽ có rất nhiều thuật ngữ mới, hiện đại hơn nữa. Tôi chỉ ráng biên dịch tất cả thuật ngữ chuyên dùng này vài lần cho các bạn có khái niệm, sau đó, tôi sẽ để nguyên, không dịch ra nữa.

Về phần giới thiệu nội dung, mời bạn đọc kỹ bài viết trong phần này của chính tác giả sẽ hiểu rõ hơn. Tôi chỉ mong sao có nhiều thời giờ dịch sách này hầu phổ biến toàn bộ cho các bạn trong thời gian sớm nhất.

Lê tuyên Phúc. (02-2017)

 

 

Hệ thống âm thanh: Thiết kế và tối ưu hóa

Ấn bản thứ ba.

Hệ thống âm thanh: Thiết kế và tối ưu hóa- cung cấp quan điểm về cách tiếp cận và triển vọng độc nhất về hành vi của hệ thống âm thanh trong thế giới thật. Ấn bản thứ ba phản ánh khuynh hướng hiện đại trong lĩnh vực âm thanh, từ đó cho độc giả những phương pháp và kỹ thuật mới nhất.

Trong phiên bản mới mở rộng rất nhiều này, bạn sẽ tìm thấy lời giải thích rõ ràng hơn, tổ chức hợp lý hơn, tăng độ bao phủ nhiều công nghệ hiện đại và nghiên cứu toàn diện về trường hợp những công việc của tác giả đã được trao giải trong lĩnh vực này.

Cuốn sách này chỉ dành riêng cho những công cụ và kỹ thuật hiện đại đang trỗi dậy trong lĩnh vực này, Hệ thống âm thanh: Thiết kế và tối ưu hóa - cung cấp nhiều hướng dẫn chuyên môn cần thiết để hoàn thiện kỹ năng thiết kế của bạn.

Cuốn sách này sẽ giúp bạn:

■Cải thiện quyết định thiết kế và tối ưu hóa của bạn bằng cách tìm hiểu cách khán giả thưởng thức việc tăng cường âm thanh ra sao.

■Xử dụng phân tích hiện đại và chương trình dự đoán để chọn cách bố trí vị trí loa, cân bằng (EQ), độ chậm trễ (delay) và mức độ âm lượng dựa vào cách loa tương tác trong không gian.

■Xác định cấu hình loa array và chiến lược thiết kế nhằm tối đa hóa tiềm năng về tính đồng nhất trong không gian.

■Đạt được sự hiểu biết toàn diện về những công cụ và kỹ thuật cần thiết để tạo ra thiết kế sẽ làm ra mô hình truyền tải/tiếp nhận (transmission/reception) thành công.

Bob McCarthy là Giám đốc của hệ thống Tối ưu hóa tại Meyer Sound và là Chủ tịch Alignment & Design, Inc. Là người phát triển hệ thống phân tích FFT, ông đi tiên phong trong phương pháp điều chỉnh hiện đại hệ thống loa, đã thành tiêu chuẩn thực hành trong ngành công nghiệp này. Ông là nhà giáo dục hàng đầu trong lĩnh vực tối ưu hóa hệ thống âm thanh và tiến hành nhiều khoá đào tạo trên toàn thế giới trong hơn ba mươi năm qua. Bob nhận được giải USITT Distinguished Achiever về thiết kế âm thanh trong năm 2014. Khách hàng của ông bao gồm nhiều công ty được coi trọng như Cirque du Soleil và Walt Disney Entertainment, cũng như nhiều người thiết kế âm thanh tốt nhất trên thế giới, bao gồm Jonathan Deans, Tony Meola, Andrew Bruce và Tom Clark.

Lời nói đầu

Cuốn sách này là về cuộc hành trình. Một mặt, chủ đề là hành trình của âm thanh khi nó di chuyển qua hệ thống âm thanh, rồi sau đó xuyên qua không khí, và chắc chắn đến tai người nào đó biết lắng nghe. Mặt khác, nó cũng là hành trình, nhiệm vụ riêng của tôi để hiểu được bản chất phức tạp của sự truyền âm này. Nội dung của sách này sẽ mô tả chi tiết, kỹ thuật nghiêm chỉnh của sự vật. Tuy nhiên, trước hết, tôi cho bạn biết vài điểm về mặt cá nhân tôi.

Tôi đã được yêu cầu xây dựng nhiều tòa nhà. Tôi không biết tại thời điểm đó, cuộc gọi điện thoại này đã bị trật vuột vào ngày 09 tháng 02 năm 1964 vì sự xuất hiện của The Beatles trong The Ed Sullivan Show. Giống như rất nhiều người trong thế hệ của tôi, sự kiện mang tính bước ngoặt này đã mang âm nhạc nổi tiếng và cây guitar điện vào cuộc sống của tôi. Tôi trở thành người có đam mê lớn về ca nhạc sống, mà tôi tham dự thường xuyên trong suốt cuộc đời tuổi trẻ của mình, khi có cơ hội trình diễn bất kỳ. Trong nhiều năm, tôi vẫn kỳ vọng mình sẽ gia nhập doanh nghiệp xây dựng của gia đình. Tầm nhìn này đã kết thúc trên một đường đua ở Des Moines, Iowa vào ngày 16, 1974. Kinh nghiệm của người nghe hệ thống âm thanh lớn tại show ca nhạc Grateful Dead này đã đưa đẩy cuộc sống của tôi theo một hướng mới. Ngày hôm đó tôi đã quyết định, mình sẽ làm việc về âm thanh cho ca nhạc live. Tôi muốn đem loại kinh nghiệm này cho những người khác. Tôi sẽ là kỹ sư mix và giấc mơ của tôi là một ngày nào đó sẽ mix trên console cho show lớn. Tôi đặt tầm nhìn vào việc chuẩn bị cho sự nghiệp như vậy trong khi học Đại học Indiana. Đây không phải là vấn đề đơn giản vì không có bằng cấp về âm thanh. Tôi đã phát hiện những chương trình học tập độc lập. Dưới sự bảo trợ của bộ phận đó, tôi kết hợp nhiều khóa học có liên quan từ nhiều ngành khác nhau và tốt nghiệp với bằng cấp đại học trong chương trình về kỹ thuật âm thanh tự tạo của tôi.

Hình 0.1:Cuống vé từ ngày 16 tháng sáu năm 1974, show ca nhạc Grateful Dead ở Des Moines, Iowa đã dẫn đến cuộc sống tội lỗi của tôi.

Đến năm 1980, tôi đã có một vài năm kinh nghiệm đi lưu diễn thành công và đã chuyển tới San Francisco. Ở đó, tôi thắt chặt quan hệ với John Meyer, Alexander Yuill-Thornton II (Thorny) và Don Pearson. Việc này sẽ trở thành mối quan hệ quan trọng cho việc phát triển nghề nghiệp của tôi. Mỗi người trong chúng tôi đã dự định góp thanh danh chúng tôi trên cùng mảnh thiết bị: dual-channel FFT analyzer.

Tôi muốn nói, tôi đã tham gia đo lường show ca nhạc với dual-channel FFT analyzer ngay từ lần đầu, nhưng không phải như thế. Đó là lần thứ hai. John Meyer bắt đầu quy trình này vào một đêm thứ bảy tháng 05, 1984. John đã lấy bộ phân tích (analyzer), một analog delay line và vài cái kẹp cá sấu đến show ca nhạc Rush ở Phoenix, Arizona, nơi ông thực hiện phép đo đầu tiên cho một hệ thống âm thanh ca nhạc, xử dụng âm nhạc như nguồn với khán giả tại chỗ. Tôi không dự định sẽ tham gia vào dự án này cho đến sáng thứ Hai sau đó.

Hình 0.2:Tác giả với bộ prototype SIM analyzer ở Grateful Dead tháng Bảy năm 1984 tại nhà hát Greek ở Berkeley, California.

Từ ngày đó trở đi, tôi đã không khi nào tham gia vào show ca nhạc hay cài đặt hệ thống âm thanh nào mà không cần xử dụng bộ dual-channel FFT analyzer. Kể từ hôm đó trở đi, tôi đã không mix một show nào cả, đặt lại tầm nhìn của tôi bằng nhiệm vụ giúp kỹ sư mix thực hành nghệ thuật của họ. Đối với Don, John, Thorny và nhiều người khác, ý tưởng về việc thiết lập hệ thống mà không có bộ FFT analyzer là điều không tưởng. Nhìn thấy hệ thống âm thanh đáp ứng độ phân giải cao, có phase đầy đủ, đáp ứng chặt chẽ và có xung lượng (impulse), là tiếng chuông mà không thể không có tiếng ngân nga. Chúng tôi đã thấy tầm quan trọng và ý nghĩa thật tế của nó ngay từ đầu và biết sẽ đến ngày này khi điều này sẽ là tiêu chuẩn thực hành. Chúng tôi đã sờ thấy sự hứng thú, với kết quả của mỗi buổi biểu diễn, kiến ​​thức đều tăng trưởng theo cấp số nhân. Chúng tôi giới thiệu nó cho tất cả những người đã mở tâm trí để lắng nghe. Sản phẩm đầu tiên đến từ quy trình phân tích FFT là một equalizer tham số. Sự trùng hợp ngẫu nhiên về đáp số thời gian của tôi đã khắc sâu trên board mạch bộ EQ của tôi vào cuối tuần qua rằng John đã có mặt Phoenix với Rush. Dự án phụ này (một preamp guitar bass) cho người bạn của tôi Rob Wenig đã được sáu tháng rồi, và thậm chí đã định sẵn sau này. Đã ép EQ vào dịch vụ ngay lập tức khi John gần té ngửa khi thấy nó có thể tạo ra những đáp ứng bổ sung (trong cả biên độ lẫn phase) với những cái ông ta đã đo ở Phoenix. Bộ CP-10 đã làm tranh cãi nhiều hơn mọi người có thể tưởng tượng. Equalization luôn có cảm xúc là "nút nóng- hot button", nhưng đề xuất EQ có khả năng chống lại những thuộc tính tổng về độ tương tác loa/phòng là đủ nguyên tố để chúng tôi có được sự hỗ trợ của tiến sĩ Julius Smith ở Stanford, chắc chắn học thuyết này sẽ lên đỉnh cao.

Don Pearson là người ngoài công ty chúng tôi đầu tiên áp dụng những khái niệm về phân tích trong show ca nhạc trong lĩnh vực này. Don là chủ sở hữu của Ultrasound và đi lưu diễn như kỹ sư hệ thống cho Grateful Dead. Don và ban nhạc lập tức nhìn thấy lợi ích nhưng lại thiếu kiên nhẫn để chờ sự phát triển của những cái sẽ trở thành Meyer Sound SIM System, ông thu nhận được FFT analyzer cho riêng mình và không bao giờ nhìn lại. Không lâu sau đó, dưới sự hướng dẫn của người thiết kế âm thanh Roger Gans ở San Francisco Opera, chúng tôi đã tham gia biểu diễn ở sân khấu quy mô cho Luciano Pavarotti. Chúng tôi nghĩ đây là vấn đề của tháng, trước khi những kỹ thuật này sẽ trở thành quy trình thao tác chuẩn cho toàn ngành công nghiệp. Chúng tôi không tưởng tượng ra sẽ phải mất gần hai mươi năm! Cuộc hành trình, như sự truyền âm thanh, phức tạp hơn chúng ta từng mong đợi. Có nhiều lực lượng mạnh lên tiếng chống lại chúng tôi theo nhiều dạng thức khác nhau: Sự chống đối chung lớn của cộng đồng âm thanh với sound analyzers và nhiều lực lượng chính trị mạnh ủng hộ cho nền tảng đo đạc thay thế khác, đó là chỉ mới kê ra một ít.

Nói chung, cộng đồng âm thanh live đã làm ồ ạt, trái ngược với những cái họ nhận thức là chính sách analyzer đưa ra mệnh lệnh cho lực lượng sáng tạo liên quan đến mặt kinh nghiệm về âm nhạc. Trong hầu hết hệ thống live concert, cụm loa ngày càng đơn giản hơn, chỉ có hai channel, trái và phải (L/R). Điều này có nghĩa, quy trình sắp xếp bao gồm sự cân bằng ít hơn. Vì tất cả việc thực hiện hiệu chỉnh hệ thống chỉ một địa điểm duy nhất, vị trí mix, vị trí khoa học và nghệ thuật đã đặt nặng câu hỏi chính xác ở trên cùng tại cùng một điểm trong không gian. Cuộc tranh luận này gây tranh cãi bất tận về những gì đã cân bằng "đúng" sau đó, vì cân bằng âm cho hệ thống âm thanh, luôn là nỗ lực nghệ thuật. Đó là một cấu trúc vô lý. Cái nào tốt hơn, bằng tai hay bằng máy phân tích (analyzer)?

Hình 0.3:Tháng 11 năm 1984, hình Luciano Pavarotti, Roger Gans, tác giả (hàng sau), Drew Serbia, Alexander Yuill-Thornton II và James Locke (hàng đầu) 

Điều này đã dẫn tới hướng đi đầy thách thức và thú vị cho chúng tôi: truy tìm ngoài vị trí mix. Di chuyển micro ra vào không gian đưa chúng tôi đến tình thế khó xử kinh khủng: Vị trí mới tiết lộ, tất cả phiên bản của hệ thống EQ đều mù mịt. Việc điều chỉnh bộ lọc tham số chính xác với thực hiện chăm sóc cho vị trí mix chu đáo không biện minh cho những địa điểm khác. Tương tác của những bộ phận linh tinh trong hệ thống loa tạo ra nhiều đáp ứng rất khác nhau trong khắp phòng. Chúng tôi tập trung lại, chuyển từ việc phải tìm ra cách EQ hoàn hảo sang nhiệm vụ tìm sự đồng nhất trong không gian.

Làm vậy đòi hỏi phải phân khu (vực) cho hệ thống âm thanh đều định rõ và có thể điều chỉnh riêng từng hệ thống phụ, mỗi khu đều có khả năng chỉnh mức độ, cân bằng và delay riêng. Sau đó kết hợp những hệ thống phụ này thành một thể thống nhất. Cộng đồng rock and roll đã chống đối ý tưởng này, chủ yếu là vì nó liên quan đến vài diễn viên bị xuống mức độ. SPL Preservation Society kiên quyết phản đối bất cứ điều gì có thể giảm khả năng công suất tối đa. Tính đồng nhất của phân khu không phải là giá trị theo đuổi nếu nó tiêu tốn công suất (khá nhiều, không có gì khác là chỉ cần một trong hai). Nếu không có phân khu, việc phân tích bị gặp khó ở vị trí mix. Nếu chúng ta không thay đổi bất cứ cái gì, tại sao phải nhìn xa hơn?

Có những thể loại khác đã mở ra ý tưởng. Quy trình này đòi hỏi micro di động quanh phòng và cách tiếp cận có hệ thống để phân chiết và xây dựng lại hệ thống âm thanh. Chúng tôi bắt đầu phát triển phương pháp này với tour lưu diễn Pavarotti. Pavarotti đã xử dụng khoảng mười hệ thống phụ, mà được đo và cân bằng tỷ số riêng và sau đó hợp nhất với nhau như một tổng thể. Chúng tôi đã mài dũa tiến trình này để đưa vào, thậm chí còn phức tạp hơn nhiều khi chúng tôi bước vào thế giới sân khấu âm nhạc với Andrew Bruce, Abe Jacob, Tony Meola, Tom Clark và nhiều người thiết kế âm thanh khác như vậy. Tầm quan trọng của chúng tôi thay đổi từ việc cung cấp từ đáp ứng âm điệu có khoa học đến tối đa hóa độ đồng nhất của âm thanh khắp không gian nghe, chỉ để lại đặc tính âm trong tay kỹ sư mix. Nhiệm vụ của chúng tôi là "cảnh sát-police EQ" đã kết thúc khi tầm quan trọng của chúng tôi thay đổi từ chất lượng âm điệu (tonal) sang quân bình âm điệu. Do đó, quy trình này đã biến thành tối ưu hóa, nhấn mạnh tính đồng nhất không gian, trong khi vẫn bao gồm cân bằng, thiết lập mức độ, thiết lập delay, định vị loa và hàng loạt lọai kiểm tra trên hệ thống. Đã rút ra đường đi rõ ràng giữa nghệ thuật và lĩnh vực khoa học.

Thời sơ khai, mọi người đánh giá sự thành công của việc điều chỉnh hệ thống qua việc đục lỗ bộ lọc (filter) của EQ. Giờ đây, với quy trình phức tạp hơn, chúng tôi không thể diễn lại trước và sau kịch bản. Để nghe "trước-before" âm thanh, có thể yêu cầu đổi vị trí loa, việc tìm cách đổi phân cực, thiết lập góc loe mới, đặt lại mức độ và thời gian delay, và cuối cùng là hàng loạt equalizations cho những hệ thống phụ khác. Cuối cùng, vai trò của kỹ sư optimization trở thành rõ ràng: phải chắc chắn khu vực khán giả nhận được âm thanh tương tự như vị trí mix.

Vào năm 1987, chúng tôi giới thiệu hệ thống đo nguồn độc lập “Source Independent Measurement” (SIM). Đây là hệ thống phân tích đa channel FFT đầu tiên, thiết kế đặc biệt để tối ưu hóa hệ thống âm thanh (lên đến sáu mươi bốn channel). Nó bao gồm một analyzer, nhiều micro và switchers để truy cập vào ngân hàng của EQ và delay. Toàn bộ đều dưới sự kiểm soát của máy tính, mà còn lưu giữ thư viện dữ liệu có thể gọi lại để so sánh, lên đến mười sáu vị trí hay kịch bản khác nhau. Do đó nó có thể giám sát hệ thống âm thanh từ nhiều chỗ và thấy rõ sự tương tác giữa những hệ thống phụ. Nó cũng có thể làm nhiều phép đo micro trong khi thực hiện và xem ảnh hưởng của khán giả hiện diện khắp không gian ra sao.

Đây không phải là để nói chúng ta đang trên đường dễ (Easy Street), vào thời điểm này. Nó là nhiệm vụ rất chóng mặt khi quản lý việc mô tả đặc điểm của đáp ứng tần số, phải đo bảy phần tần số tuyến tính riêng biệt. Thiết lập ra dữ liệu duy nhất để mô tả đầy đủ một vị trí tại một thời điểm cũng như phải ráp sáu mươi ba dấu vết, trong đó chỉ có thể nhìn thấy hai ở bất kỳ thời điểm nào trên màn hình 4-inch nhỏ. Phải thực hiện so sánh vị trí micro này đến cái khác trên từng dấu vết cơ sở một (lên đến 63 hoạt động). Giống như đang cố vẽ phong cảnh trong khi nhìn qua kính ngắm.

Hệ thống đo nhiều channel mở cửa hệ thống phân khu vực. Biện pháp này làm vỡ rào cản âm thanh nhạc pop với cảm giác Nhật, Yuming Matsutoya theo hướng dẫn của Akio Kawada, Akira Masu và Hiro Tomioka. Trên sân khấu khắp Nhật Bản, chúng tôi đã chứng minh, kỹ thuật của chúng tôi đã phát triển cho sân khấu âm nhạc và Pavarotti (mức độ hình thon- level tapering, EQ quy vùng và mix hệ thống phụ cẩn thận) cho đến nhạc rock công suất cao trong ứng dụng lưu diễn đều như nhau.

Sự ra đời của hệ thống đo lường như một sản phẩm đã theo sau những hội thảo đào tạo đầu tiên vào năm 1987. Một khoảnh khắc hạt giống (seminal) đến từ hướng bất ngờ trong hội thảo đầu tiên này khi tôi giải thích quy trình của hệ thống phân khu và vị trí mic để tối ưu hóa hệ thống. Dave Robb, một kỹ sư giàu kinh nghiệm, đã thách thức cách bố trí mic của tôi là "tùy ý" Trong tâm trí của tôi, việc lựa chọn không độc đoán. Tuy nhiên, ngay lúc đó, tôi không thể đưa ra bất kỳ tiêu chí nào đó để bác bỏ khẳng định này. Kể từ hồi bị bẽ mặt đó, nhiệm vụ của tôi là tìm ra phương pháp bảo vệ cho mỗi quyết định thực hiện trong quy trình tối ưu hóa hệ thống âm thanh. Chỉ là không đủ để biết khi có cái gì đó đang hoạt động; chúng ta phải biết lý do tại sao nó hoạt động. Những phương pháp tối ưu hóa và thiết lập này kèm theo phương pháp thiết kế hệ thống âm thanh là nền tảng của sách này.

Tôi không biết gì về thiết kế hệ thống âm thanh khi bắt đầu nhiệm vụ này vào năm 1984. Hầu như tất cả mọi điều tôi đã học về thiết kế hệ thống âm thanh xuất phát từ quy trình tối ưu hóa của họ. Quy trình giải cấu trúc và xây dựng lại thiết kế của người khác đã cho tôi khả năng duy nhất/quan điểm để xem những khía cạnh mà phổ biến là tốt, tệ hay xấu xí. Tôi rất may mắn được tiếp xúc với tất cả loại thiết kế khác nhau, xử dụng nhiều thương hiệu và model loa khác nhau, với tất cả loại tài liệu chương trình và cân lượng. Phương pháp của tôi đã từng tìm giải pháp chung cho những tình huống này hình như khác nhau và nhỏ giọt nó vào chiến lược có thể lập lại để chuyển sang ứng dụng tiếp theo.

Bắt đầu bằng chính lớp học đầu tiên, ít bị gián đoạn, tôi đã tối ưu hóa hệ thống âm thanh và giảng dạy cho ai muốn tham dự hội thảo tất cả mọi điều tôi đã học. Trong khi đó, Thorny, đã tiến lên trên và thành lập công ty tập trung chủ yếu vào dịch vụ tối ưu hóa hệ thống âm thanh bằng cách xử dụng hệ thống FFT dual-channel. Tối ưu hóa như là đặc sản đã bắt đầu nổi lên.

Sự ra đời của SIA-Smaart năm 1995 là kết quả của sự hợp tác giữa Thorny và Sam Berkow với đóng góp quan trọng của Jamie Anderson và những người khác trong những năm sau đó. Giải pháp thay thế giá rẻ này đã mang bộ dual-channel FFT analyzer vào chủ đạo và chuẩn bị cho nó có sẵn cho những chuyên gia âm thanh ở mọi cấp độ. Dẫu vậy, phải mất nhiều năm trước 1984, khi tầm nhìn của chúng tôi về analyzer FFT, là thiết bị FOH tiêu chuẩn, sẽ trở thành hiện thực. Rõ ràng, thời điểm đó đã đến. Mô hình đã đảo ngược đến điểm mà việc điều chỉnh hệ thống không cần thiết bị đo khoa học sẽ xem xét lại với nhiều bất ngờ như ngược lại với trước đây.

Kể từ những ngày đầu, chúng tôi đã liên tục tiến về phía trước với công cụ tốt hơn, hệ thống âm thanh tốt hơn, công cụ thiết kế âm thanh tốt hơn và bộ phân tích tốt hơn. Tuy nhiên, thách thức chưa bao giờ thay đổi. Khó tin nó sẽ thay đổi, vì thử thách thật sự rơi chủ yếu vào những đặc tính phân bố không gian của vật lý âm thanh. Chúng tôi xử dụng loa để lấp đầy căn phòng được cải thiện đáng kể và khả năng xử lý tín hiệu nằm ngoài bất cứ cái gì chúng tôi mơ trong những ngày đầu. Hiện nay có sẵn phần mềm dự đoán, để minh họa tương tác của loa, và chúng tôi có bộ phân tích nhanh và giá cả phải chăng để cung cấp dữ liệu tại chỗ.

Và chúng tôi đang chiến đấu trong trận chiến rất giống nhau, chúng tôi đã luôn chiến đấu: tạo ra trải nghiệm âm thanh đồng đều cho khán giả ngồi ở khắp nơi trong địa điểm. Đây là một thách thức không thể vượt qua hoàn toàn, không thể đạt được. Không có cấu hình hệ thống hay cách điều chỉnh nào hoàn hảo. Tốt nhất chúng ta có thể hy vọng là sẽ tiếp cận sự đồng nhất. Tôi tin sẽ tốt hơn khi có sự lạnh lùng thật tế về viễn cảnh của chúng tôi. Chúng tôi sẽ phải ra quyết định mà chúng tôi biết sẽ làm suy giảm mức độ tại vài khu vực để cho chỗ khác hưởng. Chúng tôi muốn họ được báo quyết định, không độc đoán.

Sách này kể về đường truyền đầy đủ từ console đến khán giả. Con đường đó đã trải qua những thay đổi đáng kể dọc toàn bộ hành trình điện tử của nó. Nhưng một khi dạng sóng đã biến thành dạng âm thanh, nó đi vào thế giới rất giống như Jean-Baptiste Joseph Fourier tìm thấy trong thế kỷ thứ mười tám và Harry Olson tìm thấy trong thập niên 1940. Digital, schmigital. Một khi nó rời khỏi loa, dạng sóng analog tinh khiết và ở lòng khoan dung của định luật vật lý âm thanh. Những khía cạnh bất biến về truyền âm là tiêu điểm của 90% trên sách này.

Hãy dành chút thời gian để xem trước thách thức mà chúng ta phải đối mặt. Hệ nghe nhạc chính là sự tương tác giữa loa này với loa khác và với phòng. Tương tác này cực kỳ phức tạp trên một mặt, và vẫn có thể tinh chế thành hai mối quan hệ chi phối: mức độ (level) tương đối và phase tương đối. Sự kết hợp của hai nguồn âm thanh có liên quan sẽ tạo ra sự phân bố không gian độc đáo về những phép cộng và trừ trên không gian. Thách thức thật tế là mỗi tần số đều kết hợp khác nhau, tạo ra một bố cục độc đáo. hệ thống âm thanh tiêu biểu có giải tần số từ 30 đến 18.000Hz, kéo dài qua tỷ lệ bước sóng 600:1. Một phòng đơn, từ quan điểm về phân bố không gian trên tần số, giống như tòa nhà chọc trời 600 tầng, có nhiều kế hoạch sàn khác nhau ở mọi cấp độ. Công việc của chúng ta là tìm ra sự kết hợp cho loa và hình học phòng đó, rồi tạo ra tính đồng nhất có mức độ cao nhất cho những kế hoạch 600 sàn này. Mỗi phần tử và bề mặt loa sẽ là hệ số đưa vào không gian phân phối. Mỗi phần tử đóng vai trò tương ứng với năng lượng mà nó mang lại độ cân bằng tại một điểm trong không gian. Mức độ kết hợp sẽ phụ thuộc vào mối quan hệ giữa phản ứng của từng phase riêng trong từng vị trí tại mỗi tần số. Làm sao chúng ta thấy những kế hoạch sàn này? Với một chương trình dự đoán âm thanh, chúng ta có thể xem cách bố trí của mỗi tầng, so sánh nó và sẽ thấy sự khác biệt. Đây là quan điểm của một giải tần số duy nhất, phân tích trên toàn bộ không gian. Với bộ phân tích âm thanh, chúng ta có được nhiều tầm nhìn khác nhau. Chúng ta thấy một điểm duy nhất trên mỗi sàn, từ mặt đất đến sân thượng, thông qua mảnh ống lớn bao quanh ngón tay chúng ta. Đây là quan điểm về một điểm duy nhất trong không gian, phân tích trên toàn bộ giải tần số.

Đây là nhiệm vụ dễ làm nản chí, nhưng khá dễ hiểu. Sách này sẽ cung ứng cho bạn những thông tin cần để có được tầm nhìn như tia X, để nhìn xuyên qua tòa nhà 600 tầng từ trên xuống dưới, và có thể thực hiện mà không cần tính toán, tính tích phân hay phương trình vi phân. Chúng ta để cho những chương trình phân tích và dự đoán làm việc nặng nhọc. Trọng tâm của chúng ta là làm sao đọc được tia X, không phải cách chế tạo ra máy X-ray.

Bí quyết để hiểu vấn đề này và chủ đề dai dẳng của sách này, là nhận dạng nguồn âm thanh. Mỗi phần tử loa, dù lớn hay nhỏ, đều đóng vai trò riêng và không bao giờ mất dạng tính đơn độc. Giải pháp là ban hành cục bộ trên cơ sở từ phấn tử này đến phần tử khác. Chúng ta phải học cách nhận ra mỗi bên tham gia đến mỗi sự kết hợp, vì nó nằm trong giải pháp tương tác phức tạp của nó.

Đây không phải là cuốn tiểu thuyết bí ẩn, vì vậy không cần phải giấu kết luận cho đến trang cuối cùng. Bí quyết đồng nhất không gian là kiểm soát sự chồng chéo của nhiều phần tử. Trong trường hợp kết hợp hai phần tử, nó phải đồng phase với nhau để đạt được sự đồng nhất không gian. Nếu không thể duy trì những phần tử có quan hệ đồng phase, thì phải giảm sự chồng chéo và chia nhỏ không gian để mỗi phần tử có vai trò chi phối trong một khu vực nhất định. Có hai cơ chế chính để tạo ra việc cách ly: tách biệt và di dời góc. Có thể xử dụng việc này riêng rẽ hay kết hợp và có thể hỗ trợ thêm bằng cách kiểm soát mức độ độc lập để chia nhỏ phòng ra. Điều này giống như nuôi con: Nếu tụi nó chơi với nhau không tốt, hãy tách riêng tụi nó ra. Sự tương tác của loa đến phòng tương tự như sự tương tác của loa này với loa khác. Bề mặt nào dội năng lượng về phía loa sẽ được quan tâm lớn nhất. Sức mạnh của phản dội bên trong sẽ tỉ lệ nghịch với sự đồng nhất không gian của chúng ta.

Không có thiết kế duy nhất cho một không gian. Có nhiều cách tiếp cận thay thế và mỗi cách đều liên quan đến sự cân bằng. Tuy nhiên, hướng dẫn thiết kế nào đó mà mở ra khả năng đồng nhất không gian và nhiều cái khác cũng tạo ra niềm hy vọng đó không thể thống kê được. Phần lớn sách này sẽ dành cho việc xác định cấu hình cho loa và chiến lược thiết kế tối đa hóa tiềm năng về tính đồng nhất không gian.

Khi thiết kế và cài đặt, phải tối ưu hóa hệ thống. Nếu thiết kế đã giữ cửa mở cho tính thống nhất về không gian, nhiệm vụ của chúng ta sẽ điều hướng hệ thống xuyên qua cánh cửa đó. Bí quyết tối ưu hóa là những kiến ​​thức về những địa điểm, kiên quyết trong cuộc chiến cho sự đồng nhất không gian. Sự tương tác của loa và phòng đi theo tập quán tập hợp những chuỗi không gian lại. Sự phân lớp cho những tác dụng lên nhau cung cấp thử thách tối thượng, nhưng không có ngẫu nhiên về tương tác của gia đình này. Nó rất hợp lý và có thể học được. Micro đo của chúng ta là những thông tin cổng thông tin để giải mã những biến thể giữa hàng trăm kế hoạch sàn và đưa ra quyết định. Thời gian và nguồn lực của chúng ta khá hạn chế. Chúng ta chỉ có thể phân biệt được ý nghĩa của dữ liệu đo nếu chúng ta biết mình đang ở trong hoàn cảnh tiến triển tương tác nào.

Chúng ta thường thấy tác phẩm của nhà khảo cổ, nơi hoàn chỉnh hình dạng khủng long, tạo ra từ mẫu của mảnh xương nhỏ. Kết luận của họ dựa hoàn toàn vào những đầu mối theo ngữ cảnh thu thập từ những kiến ​​thức về cấp số tiêu chuẩn của giải phẫu động vật. Nếu cấp số như vậy là ngẫu nhiên, có thể cho ra câu trả lời, đó quả là mẫu hóa thạch 100%. Từ việc thống kê quan điểm, ngay cả với hàng trăm vị trí micro, chúng ta sẽ không bao giờ có thể xem nhiều hơn vài mảnh nhỏ khi giải phẫu hệ thống loa của chúng ta trong phòng. Chúng ta phải xác định mỗi vị trí đo đếm, đối với việc thu thập dữ liệu, chúng ta cần phải xem bức tranh toàn cảnh. Điều này đòi hỏi có kiến ​​thức tiến tới những mốc tiến triển để chúng ta có thể xem đáp ứng trong bối cảnh của những cái được mong chờ tại vị nhất định. Rồi chúng ta sẽ thấy, gần như có thể kết luận, sẽ không có gì từ một địa điểm duy nhất. Việc xác minh tính đồng nhất không gian dựa trên sự so sánh trên nhiều địa điểm.

Cuốn sách này là về việc loa đã xác định trong cấu hình array đã xác định, với chiến lược tối ưu hóa đã xác định, đo đạc tại vị trí đã xác định. Sách này không có ý định nhân bản tài liệu về nguồn âm thanh nói chung. Sách như vậy có sẵn rất nhiều và tôi đâu muốn bao gồm cả chiều rộng lẫn bề ngang của hình ảnh âm thanh hoàn chỉnh. Hy vọng của tôi là cung cấp cái nhìn độc đáo mà không nói trước, theo cách dễ hiểu với những chuyên gia âm thanh đã quan tâm đến sự hiểu biết sâu sắc hơn về hành vi của hệ thống âm thanh trong thế giới thật.

Có một vài điểm tôi muốn giải quyết trước khi chúng ta bắt đầu. Đáng ghi nhận nhất, có thật tế là sẽ vắng mặt phần lớn những thực tại vật chất của việc xây dựng, sản xuất và lắp đặt loa. Việc mô tả loa, chủ yếu về tính hiệu suất âm thanh, không phải xử dụng bản chất vật lý về hình dạng horn hay bộ biến năng. Điều này cũng đúng với những thiết bị điện tử. Tất cả mọi cái ở đây đều không trọng lượng, không màu và không mùi. Trọng tâm là đặc tính truyền dẫn chung, không phải là tính năng độc đáo của model này nọ.

Mục thứ hai liên quan đến việc tiếp cận với nhiều loại chương trình cụ thể như âm nhạc, sân khấu âm nhạc, dịch vụ tôn giáo, và những địa điểm tương ứng như đấu trường, phòng ca nhạc, phòng trưng bày, nhà thờ. Trọng tâm ở đây là hình dạng vùng phủ sóng âm thanh, có thể điều chỉnh quy mô để phù hợp với kích cỡ của những địa điểm có mức độ âm thanh thích hợp cho từng chương trình nhất định. Đây là việc thực hiện địa điểm và chương trình cùng nhau để tạo ra ứng dụng. Định luật vật lý đều không khác nhau cho bất kỳ ứng dụng nào, và rất dễ hoán đổi chương trình và địa điểm lẫn nhau, nếu cố mô tả nó theo cách này sẽ đòi hỏi lập lại bất tận. Rốt cuộc, nhà thờ ngày nay cũng vậy, cũng giống tính năng âm nhạc phổ biến trên sân khấu, vì cũng chỉ để có bài nói chuyện và hát thánh ca trong nhà thờ vang dội tiếng của đá.

Khía cạnh nổi bật thứ ba là ở đây có nhiều thuật ngữ độc đáo, và trong vài trường hợp, việc sửa đổi những thuật ngữ tiêu chuẩn đó đã xử dụng rộng rãi. Trong hầu hết trường hợp, khuôn khổ khái niệm là duy nhất và không tìm thấy biểu thức tiêu chuẩn hiện hành. Lĩnh vực tối ưu hóa hệ thống âm thanh rất non trẻ vẫn chưa phát triển phương pháp hay thuật ngữ cho biểu thức phù hợp với quy trình đang nói ở đây. Trong trường hợp của vài điều khoản, đặc biệt là từ "crossover", có nhiều lý do phải thay đổi việc xử dụng hiện có rất thuyết phục, sẽ tiết lộ trong sách này.

Sách này chia thành ba phần. Phần đầu, "hệ thống âm thanh," khám phá cách vận hành của hệ thống truyền tải âm thanh, tiếp nhận thính giác của con người và tác động của loa. Mục tiêu của phần này là sự hiểu biết toàn diện về con đường tín hiệu sẽ mất, những nguy hiểm nó sẽ gặp trên đường và cách cảm nhận kết quả cuối cùng khi đến đích của nó ra sao. Phần thứ hai, "Thiết kế", áp dụng những thuộc tính của phần đầu vào để tạo ra thiết kế hệ thống âm thanh. Mục tiêu là sự hiểu biết toàn diện về công cụ và kỹ thuật cần thiết để tạo ra thiết kế sẽ đạt mô hình truyền tải/tiếp nhận thành công. Phần cuối, "Tối ưu hóa", liên quan đến việc đo lường hệ thống đã thiết kế và lắp đặt, kiểm tra và hiệu chuẩn trong không gian.

 

Nội dung

Lời nói đầu

PHẦN I • Hệ thống âm thanh

Chương 1: Nền tảng

1.1 Thuộc tính của audio phổ quát

1.2 Quy mô của audio

1.3 Biểu đồ và đồ thị

1.4 Nền tảng của analog audio điện tử

1.5 Nền tảng của digital audio

1.6 Nền tảng của âm học (acoustical)

Chương 2: Phân loại

2.1 Microphones

2.2 Đầu vào và đầu ra (I/O)

2.3 Mix console (desk)

2.4 Xử lý tín hiệu

2.5 Networks digital

2.6 Amplifiers

2.7 Loa

Chương 3: Truyền tải

3.1 Đường dẫn của analog audio

3.2 Truyền tải từ acoustic đến acoustic

3.3 Truyền tải từ acoustic đến analog điện tử

3.4 Truyền tải từ analog điện tử đến analog điện tử

3,5 Truyền tải từ analog đến digital

3.6 Truyền tải từ digital đến digital

3.7 Truyền tải của digital network

3.8 Truyền tải từ digital đến analog

3.9 Truyền tải từ analog điện thế đến analog công suất

3.10 Truyền tải từ analog công suất đến acoustic

3.11 Truyền tải đầy đủ

Chương 4: Tổng kết

4.1 Thêm và bớt audio

4.2 Tổng kết tần số phụ thuộc

4.3 Acoustic crossover

4.4 Loa array

4.5 Tổng kết loa/phòng

Chương 5: Nhận thức

5.1 Độ lớn

5.2 Định vị

5.3 Quan điểm về âm điệu, không gian và echo

5.4 Quan điểm về stereo

5.5 Phát hiện âm thanh khuếch đại

PHẦN II • Thiết kế

Chương 6: Đánh giá

6.1 Âm thanh tự nhiên & âm thanh khuếch đại

6.2 Kỹ sư acousticians và audio

6.3 Vị trí trung tâm

6.4 Tiến lên phía trước

Chương 7: Dự đoán

7.1 Vẽ

7.2 Chương trình lập mô hình tính âm (acoustic)

Chương 8: Biến thể

8.1 Tiến trình phương sai của loa đơn

8.2 Mức độ phương sai (Loa đơn)

8.3 Phổ phương sai

8.4 Phương sai hình âm (sonic)

8.5 Phương sai gợn sóng (sự chải)

8.6 Hình dạng bao phủ của loa

8.7 Hình dạng phòng

Chương 9: Kết hợp

9.1 Tiến trình phương sai của loa kết hợp

9.2 Mức độ phương sai của array ghép

9.3 Mức độ phương sai của array không ghép

9.4 Phổ phương sai của array ghép

9.5 Phổ phương sai của array ghép

9.6 Liệt kê phương sai tối thiểu

Chương 10: Sự triệt tiêu

10.1 Array subwoofer

10.2 Array subwoofer cardioid

Chương 11: Thông số kỹ thuật

11.1 Phân vùng hệ thống

11.2 Định tỷ lệ công suất

11.3 Loa đơn: bao phủ và nhắm hướng

11.4 Array ghép: bao phủ, nhắm hướng và độ nghiêng

11.5 Array không ghép: bao phủ, nhắm hướng và độ nghiêng

11.6 Hệ thống chính

11.7 Hệ thống lấp đầy (fill)

11.8 Hệ thống hiệu ứng (Fx)

11.9 Hệ thống hạ tần (Lf)

PHẦN III • Tối ưu hóa

Chương 12 Kiểm nghiệm

12.1 Công cụ đo vật lý

12.2 Đo microphone

12.3 Công cụ đo audio đơn giản

12.4 Bộ phân tích phép biến đổi Fourier nhanh (fast fourier transform analyzer) (FFT)

12.5 Cố định điểm/bát độ (constant q transform)

12.6 Bộ phân tích single-và dual-channel

12.7 Chức năng dịch chuyển biên độ

12.8 Chức năng dịch chuyển phase

12.9 Tín hiệu trung bình

12.10 Chức năng dịch chuyển tính nhất quán

12.11 Chức năng dịch chuyển xung lực đáp ứng

12.12 Đưa bộ phân tích hoạt động

Chương 13: Hiệu chuẩn

13.1 Kiểm tra cấu trúc

13.2 Hiệu chuẩn thư mục

13.3 Thủ tục tự hiệu chuẩn analyzer

13.4 Thủ tục hiệu chuẩn điện tử

13.5 Thủ tục hiệu chuẩn acoustic

13,6 Tùy chọn hiệu chuẩn bổ sung

Chương 14: Hiệu chỉnh

14.1 Phương pháp

14.2 Truy cập đo lường

14.3 Bố trí microphone

14.4 Thủ tục

14.5 Tự hoạt động

14,6 Ứng dụng thực tiễn

14.7 Sách thủ tục hiệu chỉnh

14.8 Hoàn thiện quy trình

14.9 Tối ưu đang thực hiện

Chương 15: Ứng dụng

15,1 Địa điểm # 1: Phòng họp nhỏ

15.2 Địa điểm # 2: Vuông nhỏ, array chính AB

15.3 Địa điểm # 3: Hộp nhỏ, L/R, downfill và delay

15.4 Địa điểm # 4: Phòng họp vừa, hai mức độ, L/C/R với fill

15.5 Địa điểm # 5: Hình quạt vừa, một mức độ, L/C/R

15.6 Địa điểm # 6: Phòng họp vừa, L/R với centerfill

15.7 Địa điểm # 7: Phòng họp vừa, L/R với nhiều lấp đầy

15.8 Địa điểm # 8: Phòng họp vừa, L/R, biến acoustics

15.9 Địa điểm # 9: Phòng họp lớn, upper/mains lower

15.10 Địa điểm # 10: Hình quạt rộng với nhiều main

15.11 Địa điểm # 11: Đại sảnh ca nhạc, ba mức độ

15.12 Địa điểm # 12: Bảng điểm trường đua

15.13 Địa điểm # 13: Trường đua, L/R mains

15.14 Địa điểm # 14: Lều lớn, nhiều delay

15.15 Địa điểm # 15: Bảng điểm sân vận động, một mức độ

15.16 Địa điểm # 16: Đại sảnh ca nhạc, center, 360 °, nhiều mức độ

15.17 Địa điểm # 17: Sảnh vừa, một mức độ

Lời Bạt

 

Last Updated on Thursday, 09 March 2017 12:28  

Add comment


GIÁO TRÌNH

CATALOG SCAN

Ai đang truy cập

We have 75 guests online
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay320
mod_vvisit_counterHôm qua384

Comment mới nhất

  • tanngoclighting 17.10.2014 00:33
    Ngoài ra, tuỳ thuộc theo từng hãng sản ...

    Read more...

     
  • tanngoclighting 17.10.2014 00:26
    Sorry Khi đọc về cấu tạo đèn Fresnel (hình ...

    Read more...

     
  • tanngoclighting 17.10.2014 00:14  
  • huonggiangcbe 11.10.2014 19:20
    Cháu đã gửi mail đăng ký một quyển ...

    Read more...

     
  • huonggiangcbe 24.08.2014 17:51
    e muon mua mot quyen GIAO TRINH AM THANH ...

    Read more...