Sound&Lightingvn Documents

Hoàn thiện hơn nghệ thuật nghe nhìn...

  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size

Cẩm nang cho Soundman & Chương 12

CHƯƠNG 12

Điều chỉnh

Tune up

 

Theo sau thế giới âm thanh tuyệt vời, chúng ta hạ cánh nổ vang (land slap bang) trong tiến trình điều chỉnh hệ thống PA. Trong chương này, chúng ta sẽ nhìn nhận PA của bạn đã sẵn sàng cho soundcheck và show.

TRANG TRÍ (PINKING)

Khi đã thiết lập tất cả và sẵn sàng làm ra tiếng động (noise), trước hết, bạn phải chắc chắn tất cả loa đang hoạt độngđã cho đáp ứng tần số đúng. Xử dụng tiếng noise hồng (pink noise) để thử nghiệm ampli và loa vì nó là tiếng âm liên tục trong phạm vi nghe được của cả nhân loại. Công suất của pink noise giảm 3 dB trên mỗi bát độ (octave), không giống như tiếng noise trắng (white noise), tạo ra cùng công suất trên tất cả tần số. Pink noise được tạo ra từ mixer và sau đó đưa qua hệ PA để nghe rõ đang phát ra cái gì. Bạn có thể tắt từng phần của hệ thống PA để nghe sự khác biệt và sau đó set loa sub, mid, và high đến mức độ bạn muốn, và cũng thiết lập những mức độ của fill hay delay bất kỳ có thể có (mặc dù bạn có thể muốn làm điều này bằng tai sau đó). Pink noise cũng là cách tìm ra lỗi bất kỳ trong hệ thống và cũng trình bày thời điểm tốt nhất để kiểm tra xem tất cả loa có phân cực đồng phase với nhau hay không. Khi tiếng noise đã tạo ra không đổi và đã đưa vào cả bên trái lẫn phải của hệ PA, bạn có thể nghe thấy bất kỳ vấn đề nào về phase.

X DNG TAI (USING YOUR EARS)

Điều quan trọng nhất cần lưu ý là nhớ xử dụng hai tai của bạn! Điều này nghe có vẻ ngớ ngẩn, nhưng chúng ta đang trong niên kỷ mà máy tính có thể làm tất cả mọi cái cho chúng ta, bao gồm thiết lập PA. Nó có thể làm điều đó không có nghĩa là bạn nên để cho nó làm, vì nó không luôn làm đúng. Tôi đã từng điều chỉnh cho show biểu diễn tại thành phố Mexico để tìm cách treo hệ thống PA rất lớn ở hai bên sân khấu và hướng vào góc trên cùng sau phòng. (Khi tôi nói "phòng", có nghĩa là giảng đường sức chứa cụ thể 4000 người tại chỗ). Mixer FOH nằm ở lưng chừng dốc trên một trong những lối đi chính. Khi tôi đang đứng đó nhìn vào sân khấu, rồi liên quan hệ thống PA với sân khấu, tôi nhận thấy nó thậm chí không hướng vào tôi cho dù tôi đang cách sân khấu khoảng 70 feet. Sau khi làm vài bài nhạc và đi bộ chung quanh, tôi thật sự bị sốc: toàn bộ phần phía trước khán giả không thể nghe nhạc trực tiếp từ hệ thống PA chính (trừ infills, nó bao phủ hai hàng đầu tiên). Khi tôi tự hỏi tại sao PA bị hướng đến góc trên cùng sau phòng, câu trả lời làm tôi co rúm: "Đó là máy tính nói phải thực hiện như vậy”.

Bạn chắc chắn có thể xử dụng phần mềm cung cấp cùng với hệ thống PA để có góc độ treo loa, nhưng nếu bạn treo hệ thống PA và nó không cho ra âm thanh đúng, nó sẽ không đúng, không có vấn đề phải làm theo những cái máy tính nói. Đây là điểm quan trọng, thật sự có thể áp dụng cho tất cả mọi cái: Nếu nó không có âm thanh đúng, thì nó cũng không đúng.

X DNG EQ

EQ là gì?

Equalization (EQ) là thao tác về đáp ứng tần số của âm thanh, làm thay đổi sự cân bằng cảm nhận âm của nó. Nó là công cụ để thêm chiều sâu và sự rõ ràng cho mix của bạn tuyệt vời, và nó không phải chỉ đơn thuần là công cụ để loại bỏ feedback.

Khi bạn đang nói về thao tác âm sắc (tone) của âm thanh cho phòng, hệ thống PA, guitar, trống, và về bất cứ cái gì cơ bản khác bạn nghe được, thì đó là bạn đang nói về EQ. Nhưng khi bị hỏi bạn đã làm trên guitar bằng loại EQ nào, trả lời có thể là "không". Trong bối cảnh này, "EQ" đề cập đến bất cứ cái gì bạn làm trên mixer để cho âm thanh guitar giống như nó chơi.

EQ phòng (Room EQ) là sự điều chỉnh đáp ứng tần số tự nhiên của phòng, bạn có thể thay đổi bằng cách thay đổi âm thanh loa để bù đắp cho những âm thanh của phòng. Cụ thể, EQ phòng sẽ là một đường đồ thị (đáp ứng tần số) bạn đã set trên bộ cân bằng đồ họa (graphic equalizer) (GEQ) của bạn, còn gọi là hệ thống EQ (vì bạn đang EQ hệ thống cho phòng).

EQ hoạt động ra sao?

Khi thực hiện cân bằng (EQ), đầu tiên, được thiết kế để đưa tín hiệu qua tụ điện và cuộn cảm. Những thành phần đóng vai trò như filter passive để thay đổi đáp ứng tần số của tín hiệu đến. Tùy thuộc vào loại và kích cỡ của những thành phần này, bạn có thể lựa chọn nhiều tần số khác nhau để điều chỉnh mức độ tương đối của . Từ lúc này, tất cả loại EQ khác cũng được phát triển.

EQ digital hoạt động trên cùng nguyên tắc, nhưng thay vì đưa line đi qua tụ điện và cuộn cảm, xử dụng xử lý tín hiệu kỹ thuật số (digital signal processing) (DSP).

Khi bạn bắt đầu xem xét EQ không cố định (nonfixed) (EQ tham số- parametric), bạn có thể thấy sự quan hệ giữa EQ và phase thay đổi ra sao. Với băng thông (bandwidth) rộng, ảnh hưởng đến tần số nhiều hơn. Với băng thông hẹp, tần số ít bị ảnh hưởng, nhưng bạn có sự thay đổi phase nhiều hơn. Họa âm (harmonic) và subharmonic bị ảnh hưởng bởi sự quan hệ của với sự dịch phase của tần số, do đó, bằng cách xử dụng EQ trên mid-range, bạn cũng có thể làm ảnh hưởng đến âm thanh của lowhigh.

Với sự phát triển của công nghệ digital mới, chúng ta đang bắt đầu thấy những cái như đáp ứng phase tuyến và phi tuyến tính (linear and nonlinear phase response), phase tối thiểu, dịch phase bổ sung, và Q liên tục (constant Q). Tất cả EQ xử dụng vài loại điều chỉnh phase để làm việc, sau đó thử và điều chỉnh lại sự dịch phase sang càng phẳng càng tốt (hay ít nhất là tối thiểu).

Đáp ứng phase cực kỳ quan trọng trong những cái bạn nghe được, cả hai: tần số nghe được lẫn không nghe được. Nghiên cứu trong những năm 1970 phát hiện ra bằng chứng rất thuyết phục,đáp ứng tần số lên tới 100 kHz khá quan trọng, nhưng micro và loa chỉ lên được khoảng 20 kHz. Chúng ta không nghe được tần số cao, đó là có vấn đề về đáp ứng phase trong băng âm thanh. Gần tần số thiết bị bạn đang xử dụng bắt đầu cuộn xuống, sự dịch phase tăng dần. Vài người nói đây là lý do tại sao nghe âm thanh một show ca nhạc live mà không thấy kích động cảm xúc nữa và có vài ý nghĩa sâu xa hơn là nghe cùng một show ca nhạc đó trong dạng thu âm,nghe nó trong phòng khách của bạn. Một lưu ý nhỏ, những âm thanh digital có liên quan đến đáp ứng phase của những filter trong bộ chuyển đổi A/D, D/A.

Bản chất của EQ là thay đổi dạng đáp ứng phase của equalizer, và nếu band hẹp hơn, lại sự dịch phase nhiều hơn. Điều này có thể gây ra vấn đề, vì như bạn đã biết, khi có hai tín hiệu ngược phase 180 độ trộn với nhau ở mức độ bằng nhau, bạn sẽ không nghe thấy nó, vì nó đã bị triệt tiêu lẫn nhau. Tầm quan trọng của sự quan hệ giữa EQ và phase không có nghĩa là bạn không nên xử dụng bất kỳ EQ nào, nó chỉ có nghĩa bạn nên xử dụng càng ít càng tốt, quan trọng bạn EQ ở đâu và ra sao, giống như lựa chọn micro âm thanh tốt, phù hợp, thay xử dụng EQ của mixer để có được những âm thanh bạn muốn.

Đáp ứng phòng (Room Response)

Trước khi nhìn vào tiến trình thật tế khi EQ, chúng ta nên xem xét nhanh vào những gì phòng cho lại cho chúng ta, theo cách tính âm của phòng ảnh hưởng đến âm thanh từ loa PA. Như đã nói trong chương trước (11) về âm thanh, khi bạn đưa âm thanh vào phòng,sẽ nói trả lại bạn bằng âm phản dội. Đáp ứng tần số này gây ra bởi phản dội phòng chúng ta muốn xem xét. Vì EQ và phase gắn bó với nhau, phòng sẽ không những chỉ có đáp ứng tần số, nhưng nó cònđáp ứng phase. Cùng với nhiều yếu tố khác, phase cũng chịu trách nhiệm cho vài EQ của phòng, bao nhiêu thì phụ thuộc vào phòng (góc độ thùng loa, cộng hưởng phòng, sóng đứng, v.v). Phase trở thành yếu tố thú vị (suy nghĩ về tất cả đáp ứng trễ nhỏ nảy ra khỏi tường, tất cả cùng dạng sóng) khi bắt đầu EQ cho phòng. Vì vậy, có hai đối số ở đây: Xử dụng EQ graphic có thể thay đổi đáp ứng phase đáng kể, vì vậy bạn nên xử dụng EQ ít nhất có thể. Nhưng nếu đáp ứng phase của phòng không phẳng, bằng EQ graphic, bạn có thể tổ chức lại phase. Điểm này phải xử dụng hai tai của bạn và đi bộ quanh phòng kỹ lưỡng, nghe toàn bộ giải tần số nằm trong phòng. Bạn sẽ không bao giờ có được âm thanh hoàn hảo ở mọi chỗ, nhưng bạn có thể cố có được âm thanh trung bình tuyệt vời ở khắp mọi nơi. Yếu tố quan trọng nhất là chắc chắn tất cả những yếu tố riêng của âm thanh PA tốt vào lúc bắt đầu chứ không phải cho âm thanh chất lượng kém bằng cách xử dụng EQ graphic.

Để đo đáp ứng tần số của phòng, bạn xử dụng máy phân tích thời gian thực (real-time analyzer-RTA), chẳng hạn như phần mềm EAWs Smaart. Nó cung cấp cho bạn chỉ thị trực quan về đáp ứng tần số của loa, phòng và đáp ứng phase.Tuy nhiên, vấn đề ở đây là mỗi phòng đều có đáp ứng khác nhau tùy thuộc nơi bạn đang đứng. Nhìn vào phép đo RTA tại một địa điểm thật sự có thể bóp méo về toàn thể phòng. Tuy nhiên, những máy phân tích loại tốt nhất này đều bị bí, không giải quyết được ở hai bên đầu của bạn. Bạn đã biết âm thanh khác nhau trong những phần khác nhau của phòng, vì vậy bạn có thể bù đắp cho điều đó bằng cách đi bộ quanh phòng và hiểu biết âm thanh của nó ra sao, tại chỗ đa số người đang đứng, so với vị trí mix của bạn. RTA chỉ cho biết một micro thu nhận âm thanh tại một địa điểm.

Một điều khác bạn cần phải suy nghĩ khi xử dụng RTA, là bạn không muốn có đáp ứng tần số quá phẳng (flat). Chúng ta không nên nghe đáp ứng phẳng, phẳng là nhàm chán. Chúng ta thích thú cười! Microphone để đo không nhận ra âm thanh như tai của chúng ta, do đó, đáp ứng phẳng luôn luôn đo âm thanh quá sáng (mạnh ở mức high). Đo đáp ứng tần số nên cuộn tắt dần khoảng 1 kHz để âm thanh đạt được độ "phẳng-flat" chủ quan.

Ngoài ra, nếu cố làm EQ cho đáp ứng tần số phẳng có thể phá hủy đáp ứng phase của loa/phòng. Tuy nhiên, trong kinh nghiệm của tôi, tốt hơn là nên có đáp ứng phase phẳng hơn đáp ứng tần số phẳng. Có đáp ứng tần số phẳng không có nghĩa là bạn có một đáp ứng phase phẳng, nhưng có một đáp ứng phase phẳng có thể sẽ làm bạn có show tốt hơn.

Tiến trình (Processe)

Hãy xem xét tiến trình kỹ sư xử dụng hệ thống EQ. Vài người thích phải lấy tiếng nói ra khỏi PA, có nghĩa kỹ sư sẽ EQ hệ thống đơn giản chỉ bằng cách nghe những âm thanh mà họ nói vào micro quen thuộc, chẳng hạn như tiếng nhép khác nhau và ngẫu nhiên, tiếng cục cục (clucks), và những từ "one" và "two". (Xử dụng từ "one" và "two" thật sự có mục đích khác, - hơn là giúp người mới làm đang nói vào microphone để xem giống như pro -, một từ có tone thấp và đục hơn trong giọng nói, và âm "t" trong “two” chứa mức high). Ý tưởng đằng sau việc điều chỉnh hệ thống PA bằng micro là bạn đã biết giọng nói của bạn và âm thanh microphone sẽ nghe ra sao trên hệ thống đã chỉnh tốt. Tuy nhiên, do gần micro, giọng nói của bạn có thể bị nhấn mạnh tiếng low-mid. Low-mid cho âm sắc guitar bass, lái tiếng guitar đi, và năng lượng âm vocal, nếu loại bỏ , bạn sẽ có thời điểm khó nhận được bất kỳ độ sâu nào trong mix. Bạn có thể có âm thanh vocal tuyệt vời, nhưng giọng nói của bạn không có khả năng tái tạo những tần số cao và thấp bạn muốn và cần, trên toàn bộ giải tần số trong mix. Bạn có thể bắt đầu bằng cách bỏ bớt những tần số, nhưng cuối cùng bạn sẽ có thêm trở lại. Một lần nữa, đây là một bài học quan trọng: Bạn phải biết khi nào nên EQ và khi nào không EQ. những vấn đề khác trong việc xử dụng giọng nói của bạn để EQ hệ thống, đó là chính giọng nói của bạn, và bạn không phải một trong những người sẽ hát trên sân khấu. Ngoài ra, không có gì khó chịu cho bằng, đội kỹ thuật còn lại nghe bạn kêu la inh ỏi qua micro SM58 đến 20 phút hay lâu hơn.

Tiến trình EQ khác gọi là ringing out (lấy ra), ý tưởng ở đây là vặn micro lên cho đến khi nó bắt đầu bị hú (feedback), sau đó tìm tần số đó trên EQ graphic, và kéo nó xuống đến khi tần số đó ngừng feedback, sau đó lập lại. Thủ tục này rất nhiều người xử dụng trên hệ thống monitor để micro có âm lượng càng lớn của càng tốt. Nguyên tắc hàng đầu trong tiến trình này là, nếu bạn đang lấy ra nhiều hơn 6 tần số bất kỳ, bạn đang làm sai. Đây có thể là trường hợp, nhưng thẳng thắn mà nói, nếu bạn đang xử dụng tiến trình này, bạn đang làm gì đó sai trái ở chỗ bắt đầu. Nó có vẻ hoạt động okay trên loa monitor, nhưng bạn vẫn có thể làm đục mix monitor với tần số low-mid không muốn đó, nếu chỉ lấy ra, tất cả mọi cái sẽ rõ hơn và bạn sẽ không có âm monitor quá lớn. Và tại FOH, bạn không bao giờ nên xử dụng tiến trình này. Chúng ta muốn mix của mình có âm thanh tuyệt vời, không chỉ là lớn thôi. Âm lớn không giúp bạn bất cứ nơi nào. Thủ tục này, cho dù nó đang xử dụng trên monitor hay FOH, cực kỳ khó chịu cho bất cứ ai đang cố làm việc trong phòng, và được coi là của hầu hết những chuyên gia cực kỳ nghiệp dư của ngành công nghiệp này. Thay vào đó, bạn nên hiểu tần số làm việc trong điều kiện ra sao, cách nâng và cắt mỗi tần số trên graphic ảnh hưởng đến âm thanh tổng thể ra sao, và bạn nên xử dụng làm lợi thế của bạn bằng cách xử dụng sự kết hợp của cắt hay nâng sẽ giúp âm thanh của bạn ở lúc sau cùng. Microphone nên có gain trước khi bị hú khá tốt (gain before feed back, ngưỡng hú, thuật ngữ- ND), vì vậy vấn đề là không được feedback. Nếu có, bạn cần phải xem xét cách đặt loa trong phòng hay trên sân khấu ra sao, và liệu micro có đủ gần với nguồn âm thanh của nó không và không bị khiếm khuyết. Đừng hy sinh những âm thanh của hệ thống chỉ cho mục đích có âm lượng nhiều hơn một chút.

Tôi thích có được một bộ sưu tập bài nhạc và nghe nó qua hệ PA. Bằng cách này bạn sẽ có giải tần và giải năng động mà bạn đang muốn kiếm qua show, và bạn sẽ có khả năng đi lại trong phòng dễ hơn nhiều so với phải móc dây micro vào người. Bản nhạc đã thu phải là bài bạn đã biết, và cũng có thể là album hay. Vài kỹ sư xử dụng bài nhạc đặc biệt, trong khi những người khác dùng bài nhạc do họ tự chọn. Nó thật sự quan trọng nếu bạn biết bài nhạc từ đầu đến đuôi, rành rẽ, bao gồm cả những phần tinh tế trong nền bài nhạc, do đó, khi bật nó lên, bạn có thể nghe thấy . Và nếu không nghe thấy nó, bạn biết mình cần nhấn mạnh nó bằng EQ ở chỗ nào. Xử dụng một phần âm nhạc mạnh một chút, có vài tần số thấp, giọng hát tốt, vài mức high, và nhất các khoảng trống. Rất nhiều đĩa CD hiện nay là đĩa re-master, đã bị điều chỉnh khá nhiều. Bạn mất đi rất nhiều dynamic trong đĩa CD, vì vậy hãy cố tránh những phiên bản mới nhất, hay bất cứ loại re-master nào. Khi xử dụng đĩa CD, hãy chắc chắn bạn không EQ bất kỳ channel nào và bạn không filter, insert, hay rẽ nhánh đến bất cứ nơi nào khác hơn là gửi đến mix chính. Hãy chắc chắn bạn đã cài gain hay trim tốt rồi sau đó đẩy fader lên. Không bao giờ, không bao giờ hết, dưới bất kỳ hoàn cảnh nào, xử dụng iPod hay bất kỳ dạng máy nghe nhạc digital cá nhân, bao gồm đĩa CD và ghi file MP3 vào nó. Phải có đĩa CD gốc và dùng kỹ thuật DAC (Digital sang Analog) trên máy CD tốt hơn nhiều so với máy nghe nhạc digital cá nhân, ngay cả khi nó có sample rate và bit depth đều ở mức cao nhất, và bạn sẽ nghe thấy một khác biệt lớn. (Rõ ràng bạn có thể nghe dữ liệu nén với một file MP3 được mã hóa với tỷ lệ bps rất cao, nhưng loại này không được trung thực. Dĩ nhiên, xử dụng âm nhạc thu lại sẽ không cung cấp cho bạn những đáp ứng chính xác giống như ban nhạc chơi qua PA, nhưng nó sẽ cung cấp cho bạn một dấu hiệu phòng đáp ứng tần số bạn đưa vào nó ra sao.

Bạn có thể thấy vài kỹ sư có bài nhạc, chữ ký của họ. Cá nhân, tôi xử dụng tổng hợp của những bài khác nhau từ "Reise Reise của Rammstein, “Ain’t Nobody” của Chaka Khan, "Heaven" của Venus Hum đến “No Son of Mine” của Mine Genesis, nó thật sự chỉ phụ thuộc vào tôi đang cảm nhận ra sao. Tất cả âm nhạc là về sự cảm nhận (feeling), bạn cần phải có cảm giác đó để dịch nó ra cảm xúc để hiểu nó. Đó là điều cơ bản.

Với bộ não, trước khi bạn sờ vào EQ và bắt đầu kéo faders EQ graphic lên xuống, bạn cần phải suy nghĩ về những cái bạn đang nghe trong phòng sau khi mở đĩa CD tham chiếu.

Graphic Equalizers (GEQ)

Khi cố gắng làm dịu đáp ứng tần số trong phòng bất kỳ, điều đầu tiên vài kỹ sư thường có khuynh hướng cắt khoanh lớn đáp ứng tần số ra khỏi graphic (đồ họa). Tuy nhiên, chuyện này không thật sự là cách thực hiện tốt nhất. Bạn nên nghĩ đến việc lấy graphic tạo ra một audioscape để mix của bạn ngồi trên đó, những quan điểm của nghệ sĩ về việc kỹ sư nên nghĩ phòng nên làm âm thanh ra sao. Graphic chính thật sự khá vô dụng khi phân loại những cái dị thường (anomaly) trong phòng, có thể tạo ra cái dị thường cho riêng . Do đó, nên xử dụng lối làm âm thanh theo phong cách bạn thích, và để cho hệ thống parametric graphic tiên tiến hơn chăm sóc cái dị thường của phòng.

Figure 12-01

Hình 12.01:

Hiệu ứng Ripple—Tạo ra khi kéo hai tần số nằm cạnh nhau ra khỏi EQ.

Một lý do cho điều này là cách filter hoạt động. Filter graphic trong filter notch hay peak bao gồm giải tần rộng hơn tần số trung tâm của , tương tác với những tần số khác chung quanh, cũng như tần số được chọn. Khi bạn muốn kéo hai tần số cạnh nhau ra, nó có khuynh hướng gây ra một loại hiệu ứng gợn sóng (Ripple) trong đáp ứng tần số, nơi những filter không gặp nhau tại chỗ gain nâng lên hay cắt, do đó, tần số mà hai filter gặp nhau đã có gain nhiều hay ít hơn tần số trung tâm. Ngoài ra, không phải tất cả những sự nâng và cắt đều của nó đều giữ cùng một băng thông. Bạn có thể thấy khi bạn tăng tần số, băng thông rộng hơn khi bạn cắt cùng một tần số.

Lý do khác để nói GEQ khá vô dụng là được chia thành 31 band 1/3 octave cố định (bạn không thể thay đổi tần số), và điều khiển duy nhất bạn có trên graphic áp dụng với tần số cắt hay nâng là bao nhiêu, làm cho khá khó "điều chỉnh-tune" âm thanh phòng trên graphic. EQ parametric, mặt khác, có quyền điều khiển tất cả ba thông số đó, vì vậy bạn có thể dễ xử dụng một cái đó để chuyển tới điểm giữa trong tần số này lấy ra những phần có vấn đề.

Với sự tiến bộ của GEQ digital mới như Contour Lake, bạn có thể tinh chỉnh hệ thống và phòng. Loại GEQ này khá giống như EQ parametric, nhưng định dạng theo loại graphic. EQ graphic tên như vậy từ thật tế nó là graphic, vì vậy có thể gọi EQ parametric mới của là EQ paragraph (chia đoạn). Đây là loại EQ là tốt hơn cho việc điều chỉnh những dị thường trong phòng hơn GEQ thông thường.

Đây là cách suy nghĩ về nó: GEQ 31 band cho mục đích sáng tạo thì tốt hơn. không thể được xử dụng như công cụ thật tế để kiểm soát hệ thống,những loại filtertrên mỗi điều khiển. Điều khiển băng thông rộng thường được xử dụng nhiều hơn về nghệ thuật, đáp ứng mượt mà và tương tác nhiều hơn với những tần số chung quanh . ParaGraph nên được xem như công cụ để thích ứng với hệ thống loại phòng bạn đang ngồi trong đó, và để cắt hay nâng những tần số cần phải được điều chỉnh phù hợp. Tùy theo cách nhìn vào nó, bạn sẽ thay đổi vài loại phase để loại bỏ vài vấn đề về phòng.

Một điểm cuối cùng trước khi sang cái khác: Với bất kỳ mixer digital nào, luôn thửchộp lấy graphic, cái là GEQ vật lý đặt trong cái rack bên cạnh bạn (không chỉ là graphic onboard của mixer), thường thiết lập cho nó có đáp ứng flat, và xử dụng trên chồng loa trái và phải của hệ thống. Điều này có nghĩa nếu bạn có bất kỳ vấn đề nào về tần số, bạn có thể xử lý dễ dàng với hơn là phải nhấn vào chế độ trên mixer mà bạn mất fader tất cả (vì mixer digital đặt sự kiểm soát GEQ trên channel) hay bạn phải nhìn vào màn hình để để tìm ra nơi con trỏ (cursor) ở đâu (do đó bạn có thể di chuyển nó qua những khu vựcvấn đề). Oh, điều này đánh bại vấn đề nêndigital graphic bên trong mixer, nhưng thẳng thắn mà nói, show chỉ xảy ra một lần, và nếu bạn quá bận rộn cố tìm 2,5 kHz ở đâu trên màn hình, có điều gì đó sai lầm nghiêm trọng.


NGH THUT CÂN BNG H THNG                                              

(THE ART OF SYSTEM EQUALIZATION)

Trong phần này, chúng ta sẽ nhìn vào thật tế của tiến trình cân bằng, và chúng ta giả định bạn có hệ thống GEQ và rack-mountable GEQ. Trên hệ thống PA nhỏ, bạn có thể sẽ chỉ có một GEQ, nhưng bạn sẽ thấy những hệ thống lớn có GEQ FOH mà bạn có thể điều chỉnh, và cũng hệ thống GEQ khác kết hợp với crossover. Những loại GEQ này chỉ truy cập bằng máy tính hay nút nhấn kết hợp trên mặt trước của crossover. Bạn có thể thấy vài loại màn hình máy tính kết nối với crossover, do đó kỹ thuật viên hệ thống hay kỹ sư tại chỗ có thể thiết lập hệ thống theo cách họ muốn, và sau đó tất cả kỹ sư khác ra vào điểm diễn xử dụng EQ graphic tại FOH. Rất nhiều lần, bạn sẽ thấy đường đồ thị của hệ thống EQ đã bị khóa, trong khi thời điểm khác, kỹ sư tại chỗ rất sung sướng khi tắt nó đi. Hãy nhớ, khi bạn đang trong tình huống này, bạn đang bị nguy hiểm gấp đôi khi EQ.

EQ graphic được xử dụng để điều chỉnh tần số đáp ứng của loa hướng vào phòng để nó cho ra âm thanh chính xác hay trung thực cao (hi-fi) cho tất cả nguồn âm thanh. EQ trên mixer xử dụng như công cụ sản xuất sáng tạo để thay đổi sự cân bằng âm của riêng mỗi nhạc cụ và vocal.

Khi đang EQ (EQing), xem xét chỗ của bạn và xem sẽ ảnh hưởng đến âm thanh ra sao, chỗ khán giả cũng vậy. Điều lớn nhất để ghi nhớ vào thời điểm này là bạn chỉ cần tìm cách loại bỏ bất kỳ điều dị thường (anomalie) nào, có nghĩa bất kỳ tần số nào hay tần số nổi hơn mức độ nó nên. Hãy nhớ, khi EQ loa, bạn đang tạo sự thay đổi phase và tần số trên toàn bộ mix. Áp dụng cắt giảm 400-Hz trên toàn bộ hệ thống có nghĩa tất cả nhạc cụ sẽ bị cắt giảm tại 400 Hz. Nếu giai điệu từ guitar bass của bạn xuất phát từ đó, hay đó là nơi mà một trong những trống toms đã điều chỉnh, bạn sẽ phải nâng những tần số này để mang lại điều đó một lần nữa. Thay đổi phase trong toàn bộ mix có thể nguy cơ tiềm tàng vì âm thanh kết thúc nghe có vẻ như đó là "tí hon-tiny" hơn là rộng và mở. Cá nhân, mặc dù, EQ thay đổi trên những channel có thể và sẽ tăng cường việc mix. Đặt ra câu hỏi sau đây: Có nên nhấn mạnh tần số quá nhiều trong phòng hay trong mix không? Bạn cần phải thật sự nghe những cái bạn đang làm. Thử và sai (mầy mò) sẽ giúp, nhưng kinh nghiệm là người thầy tốt nhất. Một khi bạn đã hiểu phần nghe, mọi cái khác đều khá tự nhiên.

Khi bạn đang nghe nhạc qua hệ PA, trước khi chạm vào bất kỳ dạng thức nào của EQ, bạn cần phải ra khỏi đằng sau mixer và đi dạo. Có thể có tần số nổi bật hơn trong phần này hơn những phần khác của điểm diễn, và bạn cũng cần phải lắng nghe âm thanh trong phần còn lại của điểm diễn, quan hệ với chuyện bạn đang ở đâu ra sao. Hãy ghi trong đầu sự khác biệt giữa bạn đang ở đâu và phần còn lại của điểm diễn. Nếu bạn đứng giữa phòng và nghe âm thanh tuyệt vời, sau đó rời đi, hầu hết khán giả sẽ ngồi ở đó. Bạn đang nghe tần số mà nó đang nhảy ra khỏi bạn, sẽ tự xuất hiện như loại nốt nhạc lớn đang chơi. Bạn cũng nghe những tần số mà bạn sẽ nghe thấy, điều này là lý do tại sao bạn cần một bài nhạc mà bạn biết rất rõ. Những gì bạn đang lắng nghe là để dịch ra tất cả cho EQ hiểu, và đó cũng được xem là sở thích cá nhân quan trọng nhất. Một khi bạn đã quyết định được tần số nào đang nhô ra, đi tới GEQ và loại bỏ chúng. Một điều cần lưu ý trong khi đi qua tiến trình này là không phải tất cả hệ PA nào cũng có thể tái tạo tất cả mọi cái đều tốt như nhau. Nếu bạn đang nghe vài bộ gõ tinh tế trong bài nhạc bạn đang chơi và có vẻ như bị mắc kẹt rất sâu trong nền nhạc, bạn có thể thử và dùng EQ để nó nổi bật hơn một chút. Bạn đang bị nguy hiểm ở đây nếu thêm EQ quá nhiều, có thể tràn ngập phần còn lại của mix. Lắng nghe những tần số trụ trong phòng, và mix đang ra sao, nhưng hãy chú ý về những cái bạn đã làm và xem xét nó lại sau này.

Đừng cố gắng EQ nhiều trên hệ thống EQ chính. Phòng sẽ đáp ứng khác khi có người ở đó, để hiểu những gì bạn đang lấy ra. Nếu bạn lấy ra rất nhiều mức high, hãy lưu ý nó để bạn có thể đẩy lên trở lại sau này. Làm điều này trên graphic sẽ dễ hơn là trên EQ nằm trong crossover, bằng cách xử dụng màn hình máy tính và bút ma thuật di chuyển những cái chung quanh.

Chúng ta đã nói lên tất cả: NGHE. Chỉ vì bạn có EQ graphic ngay trước mặt, không có nghĩa bạn phải xử dụng nó.

Là kỹ sư tour lưu diễn, tôi không bao giờ sợ bàn tay tôi bị bẩn bởi graphic. Một lần, tại House of Blues ở Houston, tôi đẩy faders channel CD của tôi lên, CD này đã xử dụng để EQ hệ thống, và tôi nghe những gì chỉ có thể mô tả như âm thanh khủng khiếp và đẫm máu bay ra khỏi loa. Tôi vặn CD xuống kiểm tra, và nhận ra EQ không quá trên channel, không qua filter high-pass (HP) hay low-pass (LP) trong, kiểm tra mức gain, và thậm chí kiểm tra đĩa CD qua headphone để chắc chắn âm thanh tốt. Khi tôi không thể phát hiện đã sai cái gì, tôi hỏi kỹ sư tại chỗ, và tôi đã được thông báo hệ thống luôn nghe như vậy. Để thử và sửa chữa, tôi đã mầy mò với graphic. Khi tôi có cái gì đó mà ít nhất là mơ hồ (remotely) gần với những gì tôi muốn ("remotely" là từ khóa), màn hình trông giống như tôi muốn chơi trò chơi của Battleship. Tôi hỏi có phải cái này có phải đồ thị EQ điển hình cho kỹ sư để đưa vào hệ thống, và phản ứng của ông ta là: "Tôi đã nhìn thấy vài EQ cực đẹp ở đây". Hệ thống này được cài đặt bởi một công ty PA, và sau đó là kỹ sư tại chỗ. Hai người đã khóa bất kỳ cần điều khiển thích hợp nào trên toàn hệ thống. Hệ thống này có thể đã được thiết lập khi cài đặt tại nhà máy đạt tiêu chuẩn, và đặt trong phòng khi không có ai ở trong đó. Sau đó, nó có thể đã có hệ thống EQ đặt trên toàn bộ, chỉ được thiết lập crossover, và nó cũng có thể đã bị khóa và để lại cho kỹ thuật viên tại chỗ xử dụng. Điều này có nghĩa không thể cải thiện về âm thanh cho rất nhiều show sau này đi ngang qua, có nghĩa, nếu đó là kinh nghiệm đầu tiên của kỹ sư của hệ thống PA Adamson, ông ta sẽ không bao giờ muốn xử dụng nó một lần nữa.

 

Vấn đề là đôi khi hệ thống chỉ âm thanh bị xấu, do đó, bạn không sợ việc nhảy vào và đẩy tới lui vài fader GEQ để có được âm thanh bạn muốn. Vì cách chia phần của graphic, bạn chỉ có bước 1/3 bát độ (octave) (1/3 octave băng thông cho mỗi fader), do đó không ngạc nhiên nếu bạn cắt một tần số và tiếp theo là nâng lên để thử và tìm ra chỗ ở giữa. Đó không phải là cách làm việc hiệu quả nhất, nhưng đôi khi bạn có thể nhận ra được những âm thanh bạn cần, và cũng như với bất cứ cái gì trong âm thanh live, luôn có sự thỏa hiệp, đánh đổi.

Tạo Audioscape

Vải bạt, trong đó bạn sẽ bắt đầu đặt audioscape của bạn ở đây, với EQ, bạn đang xây dựng một nền tảng (background) cho tất cả EQ khác ngồi lên. Hãy nhớ, mỗi EQ bạn có trên những channel hoạt động cùng với EQ trên toàn bộ hệ thống. Đây là nơi bạn có thể làm cho một nhạc cụ nổi bật, hay cách khác, đi dần dần vào nền. Thí dụ, bạn có thể loại ra vài low-mid và sau đó nhận thấy, khi bạn làm việc qua những channel EQ, bạn cần phải đặt low-mid cho bộ trống, guitar bass, guitar, v.v trở lại, cho tất cả vì nó làm cho vocal hơi bị đục . Trong trường hợp này, điều tốt hơn chỉ cần loại bỏ nó từ những channel vocal, chứ không phải toàn bộ hệ thống, giữ sự liên kết phase của hệ PA nguyên vẹn hơn một chút. Khi bạn xử dụng những EQ trên channel và compress trên mixer, nên làm việc theo cách nào giúp bạn kiểm soát được mix.

Nếu chỉ có âm thanh vocal bị boomy (bùm), không xử dụng EQ graphic để cải thiện âm sắc của vocal. Chỉ dụng EQ từng channel của mixer cho vocal.

Một trong những quy tắc EQ đầu tiên tôi đã được dạy là không được thêm gain cho EQ. Vì vậy, hiện nay, đó là chính xác những gì tôi đã làm. Lý do cho việc này là nó có thể tăng distortion (biến dạng) nếu tín hiệu đã gần bị clipping (cắt), mà nó không nên bị như vậy. Tuy nhiên, distortion không phải luôn là điều xấu, distortion xấu quá nhiều mới là điều xấu. Bổ sung nó cho một nhạc cụ có thể thực hiện sự truyền động sống động hơn một chút (mặc dù điều này là một vấn đề của channel hơn vấn đề của hệ thống EQ).

Bạn có rất nhiều quyền lực trong tầm tay. Bạn có thể làm cho âm thanh bài hát buồn thành mạnh và đầy cảm xúc hơn, hay sẽ yếu và ảm đạm đi. Bí quyết này là để làm việc với GEQ và EQ trên mixer với nhau. Phải nhận thức được khi nào EQ cho phòng và khi nào EQ trên mixer. Sau này, tôi mới nhận thức được điều đó một chút, nhưng nó thật sự đơn giản nếu bạn chỉ cần làm theo hai quy tắc đơn giản: lắng nghe và suy nghĩ. Nghe những tần số đang từ đâu đến, nếu bạn có thể nghe tiếng wooliness 250-Hz trong guitar, không phải ở guitar bass, sau đó rất có thể bạn lại nghĩ trong guitar. Hãy suy nghĩ về bạn có thể đến chỗ nào để kéo những tần số đó ra. Nếu bằng cách loại bỏ 250 Hz bạn bị mất độ sâu trong mix, sau đó bạn cần phải suy nghĩ chỗ nào khác bạn có thể làm âm thanh trong trẻo lại.

 

Fill và Delay

Trước khi áp dụng bất kỳ EQ nào, nên thực hiện việc sắp xếp thời gian (time alignment) cho tất cả fill và delay,nếu không sắp xếp loa có thể ảnh hưởng đến đáp ứng tần số. Đừng quên cách kiểm tra âm thanh filldelay, nhưng hãy tắt nó đi trong khi nghe hệ thống chính. Bằng cách này sẽ không làm đục những gì bạn đang nghe. Một khi hệ thống PA chính đã được EQ theo ý thích của bạn, bạn có thể bật filldelay của bạn lên.

Tùy thuộc vào kích thước của sân khấu, càng nhiều infill (giàn loa mặt tiền sân khấu, còn gọi là near-field-ND) với số lượng nhiều nhất có thể. Đặt vocal chính qua nó, như vậy bạn có thể sẽ nhận được rất nhiều âm thanh từ nhạc cụ quay trở lại từ sân khấu, sẽ bao phủ những hàng trước khán giả. Có lẽ chỉ cần tăng âm vocal lên một chút, để bạn có thể EQ những loa infill này bằng cái gì phù hợp nhất với vocal chứ không phải là cái gì tốt nhất cho mix. Loại này chỉ là để củng cố những gì vượt tầm hệ thống PA chính, do đó không có nhu cầu rất lớn. Trong thật tế, bạn không nên có thể nghe thấy những âm thanh đó đến từ đâu. Bạn có thể thấy bạn chỉ cần thêm vài phần giai điệu chính đến loa infill cũng được.

Outfill (hệ loa tăng cường, bố trí xa sân khấu, giữa và sau khán giả- ND) delay nhận được mix tương tự như loa PA chính. Thủ thuật ở đây là, một lần nữa, chỉ đơn giản là củng cố những gì vượt tầm hệ thống PA chính. Nếu bạn chỉ cần một vài mức high hơn ở phía sau, sau đó chỉ cần đặt mức high là có delay. Bạn không muốn làm mờ delay quá nhiều. Công việc của loa PA chính là cung cấp cho bạn mức độ áp lực âm thanh, công việc của delay chỉ đơn giản để gia cố những phần không thể nghe được.

Vì loa outfill có khuynh hướng bao phủ bộ phận khán giả kế tiếp không có tín hiệu trực tiếp từ hệ thống PA, bạn sẽ phải đưa toàn bộ mix cho . Cố gắng EQ những cái này cho toàn bộ mix. Rất có thể là bạn sẽ không cần bất kỳ tần số sub nào ở đây bởi vì bạn đã nhận đủ tiếng sub từ PA chính. Mức độ thật sự chỉ phụ thuộc vào kích cỡ của loa bạn có. Nếu chỉ bao phủ cho lượng nhỏ khán giả, nếu vặn nó lên quá lớn sẽ làm có nhiều vấn đề tại điểm những loa chính tiếp quản từ những loa outfill.

Cách tốt nhất để bất kỳ setup này là vì bạn không thể nghe thấy bất kỳ loa nào riêng ra với nhau. Tất cả đều nên hoạt động cùng lúc, và tất cả âm thanh như đang đến từ cùng một vị trí. Miễn là bạn set delay chính xác cho tất cả loa, và EQ phải khá chính xác, điều này sẽ là nhiệm vụ thực hiện khá dễ. Thêm lượng delay cho những channel outfill làm cho người nghe khoanh vùng vào âm thanh trên sân khấu hơn là ở loa outfill gần nhất.

Bạn có thể sẽ không có thể nghe bất kỳ tiếng loa fill hay delay từ vị trí mix, vì vậy rất quan trọng phải chắc chắn âm thanh của nó đã tốt lúc bắt đầu. Nếu có thể, luôn có một EQ cho những tín hiệu send này. Một điều khác cần ghi nhớ là, nếu bạn đang vào một điểm diễn với hệ thống PA riêng, những send và EQ có thể đã được thiết lập trước. Trước khi thay đổi bất cứ điều gì, nhớ đi bộ chung quanh và lắng nghe . Bạn có thể không cần phải thay đổi bất cứ điều gì, nếu không phải là nhiều hơn một chút.

Luôn là ý tưởng tốt khi tắt tất cả loa fill và delay khi soundcheck, điều này để chắc chắn bạn đang nhận âm thanh trực tiếp từ PA chính, chứ không phải là âm thanh môi trường đến từ nhiều nguồn khác chung quanh điểm diễn.

 

Hú (Feedback)

Một trong những câu hỏi, đó là luôn hỏi cách loại bỏ feedback ra sao. Rõ ràng, loại bỏ feedback là vô cùng quan trọng, nhưng không phải lúc nào cũng dễ. Nhiều yếu tố có liên quan đến việc gây ra vấn đề này, do đó, có nhiều giải pháp để thoát khỏi nó. Điều đầu tiên, phần lớn mọi người đều mầy mò trên graphic và bắt đầu hacking tần số ra. Điều này sẽ loại bỏ các tần số feedback, nhưng nó cũng có thể phá hủy sự rõ ràng rất quan trọng.

Bạn có thể thấy thiết bị gọi là feedback exterminator hay suppressor. Đừng bao giờ xử dụng nó. Nó có thể loại bỏ feedback, nhưng nó cũng có thể giũ sạch cả vocal. Thiết bị này là công cụ cho ban nhạc quán bar nhỏ thiết lập hệ thống PA riêng của họ, chứ không phải cho kỹ sư chuyên nghiệp. Nếu bạn nhìn thấy một cái đó trong hệ thống, bạn nên nghiêm túc đặt câu hỏi về người đã cài đặt nó. Feedback exterminators phát hiện tần số bị feedback và giảm tần số đó ở mức độ nào đó cho đến khi nó ngừng feedback. Tôi chưa bao giờ thấy nó hoạt động tốt, ngay sau khi một tần số bắt đầu nhô lên, nó sẽ lấy tần số đó ra, mặc dù chưa gây ra feedback.

Trong chương tiếp theo, chúng ta sẽ xem xét polar pattern của micro, sẽ giúp bạn tăng ngưỡng hú (gain before feedback). Tuy nhiên, có vài cái khác để suy nghĩ, nếu bạn đang gặp vấn đề với feedback, hãy di chuyển loa wedge hay loa FOH nếu can thiệp vào micro quá nhiều, hay bố trí micro gần nguồn âm thanh hơn.

Feedback không chỉ rất khó chịu, nó cũng cực kỳ nguy hiểm. Điều đầu tiên bạn cần phải nhận thức được những cái gì có tiềm năng bị feedback. Có một công cụ thật sự tốt để phát hiện ra những tiềm năng này: là đôi mắt của bạn. Nhìn vào vị trí micro để coi micro nào gần loa wedge nhất, sau đó suy nghĩ micro này thường cần input gain là bao nhiêu. Điều khác nữa là tìm người hay vật nào đang ở phía trước micro. Điều này liên quan đến sự thay đổi đáp ứng phân cực của micro, chúng ta sẽ đi vào chi tiết hơn trong chương tiếp theo. Nhưng bây giờ chỉ cần hiểu, khi bạn đặt đối tượng ở phía trước micro, đối tượng này sẽ phản dội âm thanh vào mặt trước của micro đó. Nếu ai đó nói vào micro, thay vì chỉ thu nhận âm thanh ở phía trước của mic, bây giờ nó còn thu âm thanh từ chung quanh, hai bên và phía sau, và điều này có thể do loa wedge. Ngoài ra, rất có thể là bạn sẽ chạm vào, hay vừa sờ vào channel bắt đầu bị feedback. Nếu cái gì đó bắt đầu bị feedback, bạn cần phải hành động nhanh, làm câm (mute) channel sẽ tắt, kéo fader xuống, nhấn mute và bắt đầu đẩy nó trở lại cho đến khi hoàn toàn kiểm soát được feedback. Sau đó tìm tần số trên EQ của channel hay GEQ và lấy nó ra (chỉ cần nhớ những gì chúng ta vừa nói đến, và suy nghĩ về chỗ mà bạn cần EQ). Thật sự, cách loại bỏ feedback tốt nhất là xử dụng đôi tai của bạn và lắng nghe đang xảy ra cái gì. Thiết bị chuyên nghiệp được xử dụng thường xuyên mà không có bất kỳ vấn đề gì cả, vì vậy nếu bạn đang chật vật tìm cách hạn chế feedback, sau đó rất có thể sẽ có cái gì đó sai trái với một phần của thiết bị hay cách đã setup ra sao.

 

-------------- Hết chương 12 --------------

 

 

Add comment


GIÁO TRÌNH

CATALOG SCAN

Ai đang truy cập

We have 57 guests online
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay302
mod_vvisit_counterHôm qua384

Comment mới nhất

  • tanngoclighting 17.10.2014 00:33
    Ngoài ra, tuỳ thuộc theo từng hãng sản ...

    Read more...

     
  • tanngoclighting 17.10.2014 00:26
    Sorry Khi đọc về cấu tạo đèn Fresnel (hình ...

    Read more...

     
  • tanngoclighting 17.10.2014 00:14  
  • huonggiangcbe 11.10.2014 19:20
    Cháu đã gửi mail đăng ký một quyển ...

    Read more...

     
  • huonggiangcbe 24.08.2014 17:51
    e muon mua mot quyen GIAO TRINH AM THANH ...

    Read more...