Sound&Lightingvn Documents

Hoàn thiện hơn nghệ thuật nghe nhìn...

  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size

Cẩm nang cho Soundman & Chương 09 (tt)

 

HIỆU ỨNG (EFFECTS)

Effect lo thêm mọi việc mix của bạn, làm cho nó sâu, rộng, và thoáng đãng hơn. Một khi bạn hiểu những nút điều khiển làm được cái gì, bạn có thể cho ra tất cả loại hiệu ứng sáng tạo, từ âm vang tự nhiên như reverb rồi sang hiệu ứng delay flanger kỳ quái. Có khả năng vô tận, và, như với mọi cái khác, bạn nên thử nghiệm để bạn có thể nghe thấy mình làm những gì.

Trong phần này, chúng ta sẽ xem xét một số hiệu ứng điển hình và không điển hình. Chúng ta bắt đầu với những hiệu ứng phổ biến nhất.

Reverb

Nói cách đơn giản, âm thanh reverb là một loạt tiếng vang đến từ nhiều góc độ lập lại gần, quá gần tại thời điểm cho tai giải quyết. Nó thực hiện bởi lượng vô hạn sóng phản dội, với tất cả các tần số âm phổ và thời gian chậm trễ khác nhau. Chúng ta nghe reverb gần như thường xuyên khi chúng ta nghe một âm thanh trong cái phòng, và nó làm cho âm thanh có vẻ tự nhiên hơn.

Mục đích của thiết bị reverb là mô phỏng môi trường âm thanh tự nhiên, chẳng hạn như phòng trong nhà hay hành lang. có thể mô phỏng âm thanh tự nhiên với âm vang khá tốt. Điều chỉnh vài thông số trên thiết bị reverb có thể cung cấp cho bạn một âm thanh hoàn toàn khác nhau. Mỗi loại reverb có những đặc trưng và sự khác biệt âm sắc riêng của mình, thêm nhiều hơn so với chỉ vài âm thanh reverb cho một mix.

Reverb bất kỳ đều có hai phần chính:

# Phản dội đầu (Early reflections): phản dội âm thanh (tiếng vang-echo) xảy ra trong khoảng 1/20 mili giây của âm thanh trực tiếp ban đầu. giúp xác định nhận thức kích thước của căn phòng tạo ra những âm reverb này.

# Phân rã (Decay): phần âm vang sau khi phản dội, đầu khi tiếng vang gia tăng về số lượng theo thời gian và dần dần giảm âm hay phân thành im lặng. Đây là một âm thanh "loãng-washy", không xác định được. Cái này sau đó chết hẳn vì mỗi khi phản dội âm thanh đều bị mất năng lượng.

Figure 09-09

Hình 09.09:

Những phản dội ban đầu từ reverb xác định rõ hơn rất nhiều, nhưng phản dội ban đầu lại tự phản dội chính nó, tín hiệu trở thành rất loãng.

REVERB CONTROLS

Hãy nhìn vào các điều khiển chính trên một thiết bị reverb điển hình.

Cỡ phòng (Room Size)

Đây là phòng ảo. Bạn có thể làm phòng lớn hay nhỏ hơn, tùy thuộc bạn đang tìm loại âm thanh nào,.Cái này sẽ đặt tập hợp nhiều biến thể vào thiết bị reverb, có ảnh hưởng đến cách sóng âm đi quanh phòng. Hãy cẩn thận không thiết lập cho thiết bị room size quá nhỏ, vì điều này có thể gây ra tiếng líu lo (warbling) hay hiệu ứng rung, có thể âm thanh rất không tự nhiên.

Pre-Delay

Cái này điều khiển thời gian cần cho sự lập lại đầu tiên quay trở lại. Khi bạn đang ở trong phòng ngủ, thí dụ, thời gian pre-delay tự nhiên sẽ có thể khoảng 5-10 mili-giây, nói cách khác, gần như tức thời. Điều này rất khác với trong không gian lớn, chẳng hạn như trong sân vận động, pre-delay ở đây có thể khoảng 40-50 mili-giây, hay thậm chí có thể hơn nữa. Pre-delay xác định cảm nhận kích cỡ của phòng mô phỏng. Với pre-delay, bạn sẽ nghe thấy những âm thanh ban đầu (trực tiếp) đầu tiên, tiếp theo là âm thanh (reverb) phản dội ngay sau nó. Điều này cho chúng ta ý thức về không gian trong bất kỳ môi trường nào. Xử dụng pre-delay cho vocal có thể làm rõ giọng hát bằng cách tách âm thanh trực tiếp từ sự khởi đầu của âm vang.

Thời gian vang (Reverb Time)

Reverb time còn được gọi là thời gian phân rã (decay time) trên vài thiết bị và là thời gian cần cho reverb chết đi 60dB dưới mức âm thanh gốc. Trong phòng ngủ, có thể bạn sẽ không nhận thấy bất kỳ reverb nào cả,reverb time quá ngắn, có lẽ khoảng 0,2-0,3 giây, có thể ít hơn. Tuy nhiên, trong sân vận động, bạn có thể có reverb time là 5-6 giây, hay thậm chí hơn nữa. Rõ ràng, là hai thái cực, và có rất nhiều biến ở giữa hai cái, bạn có thể reverb time từ 0,1 giây lên đến 99 giây.

Khuếch tán (Diffusion)

Diffusion là không gian giữa sự vang lập lại, và nó cho bạn biết về loại không gian bạn . Đang trong phòng trung bình sẽ gây ra sự khuếch tán thấp; cái này có rất nhiều khả năng đồ nội thất mềm mại, có nghĩa là âm thanh ít phản dội, và như vậy, thời gian dài hơn giữa mỗi lần lập lại. Diffusion cao xảy ra trong nhà thờ, nơi có những bức tường đá và bề mặt cứng và rất nhiều sự bất thường bề mặt khuếch tán (spread out) những âm thanh phản dội.

Mật độ (Density)

Mật độ kiểm soát sự delay ngắn đầu tiên của reverb. Như chúng ta đã thấy trước đây, phản dội đầu tiên được xác định hơn những cái sau. Thiết lập này điều khiển số lượng phản dội đầu, vì vậy bạn có thể tạo ra sự rõ ràng cho vocal, hay pha trộn và làm mềm những tiếng gõ cho trống. Đây là quy luật chung của ngón tay cái: âm thanh bộ gõ sẽ yêu cầu mật độ cao hơn, và âm thanh du dương yêu cầu mật độ thấp hơn.

Bộ lọc (Filter)

Nhiều thiết bị reverb có cài đặt để thay đổi EQ trên tiếng reverb. Đây không phải là EQ phức tạp, tuy nhiên, chúng thường khá cơ bản, với ba band: low, mid, và high. Mỗi cái thường có một điều khiển tần số, băng thông, và gain. Băng thông trên highlow thường có thể được biến thành một filter thềm (shelf) hay pass. Loại EQ này cho reverb đặc tính âm sắc của .

LOẠI REVERB

Có rất nhiều loại mẫu thiết lập ác hiệu ứng để lựa chọn, chẳng hạn như " Vocal Verb 4" hay "Extended Church 4.5". Dưới đây chúng ta giải thích một chút về mỗi loại này.

Có hai điều quan trọng cần nhớ khi bạn đọc qua thông tin này: (1) Không phải tất cả các loại reverb đều phù hợp với tất cả loại phòng, và (2) bạn không luôn cần phải thêm reverb. Nói cách khác, hãy để cho các hiệu ứng tự nhiên của phòng tự thực hiện cho bạn. Thêm reverb thêm ở đâu và khi cần sẽ dẫn đến crisper (ngăn đựng rau?) và âm thanh cũng rõ ràng hơn. Nhiều điểm diễn có rất nhiều hiệu ứng tự nhiên, vì vậy bạn có thể không cần thêm bất kỳ reverb nào cho âm thanh nữa, nó chỉ làm đục thêm.

Giọng hát (Vocal)

Âm thanh cho reverb vocal khá phong phú, và không quá dài, có lẽ thời gian reverb chỉ khoảng 1-1,5 giây, và ngắn hơn pre-delay khoảng 10-15 mili giây. có mật độ thấp hơn so với hầu hết các reverb khác.

Lưu ý rằng cái gọi là reverb vocal không có nghĩa là nó phải xử dụng cho vocal, trong thật tế, tôi thường xuyên xử dụng nó trên trống. Hãy nhớ rằng: Khi một âm thanh nào đó đúng, không có vấn đề bạn đã có nó như thế nào.

Phòng (Room)

Reverb trong phòng khá ngắn mà không nhiều pre-delay. Hầu hết thiết bị đều có loại EQ reverbs khác nhau: phòng điện thoại, phòng tắm, nhà bếp, v.v. Phòng nhiều bề mặt mềm không có nhiều tần số cao, trong khi phòng bề mặt cứng và sáng bóng phản dội tần số cao hơn.

Hội trường (Hall)

Bạn có thể tưởng tượng, reverb hội trường lớn hơn reverb phòng và thườngloại mịn. có thời gian decay lâu hơn và thiết lập room size lớn hơn, tạo ra những phản dội phức tạp hơn. Điều này có nghĩa là khi pha trộn các phản dội với nhau, decay rất mượt mà.

Tấm (Plate)

Reverb plate sáng nhất trong tất cả loại reverb. Nó xử dụng khá nhiều cho vocal, tuy nhiên, theo ý kiến cá nhân, tôi không thích reverb vocalnhiều độ sáng. Tôi thấy rằng nó có khuynh hướng làm rối loạn nguồn âm thanh chính. (bạn luôn có thể vặn trên đỉnh xuống hay thêm một filter trong trường hợp này).

Một reverb plate tương tự như một reverb lò xo trong một ampli guitar, tạo ra bởi một lò xo gắn trong một hộp kim loại với hai chuyển đổi ở hai đầu (bộ chuyển đổi là một thiết bị chuyển đổi năng lượng từ dạng này qua dạng khác, chẳng hạn như pickup guitar). Tín hiệu được đưa vào một bên và đi qua lò xo, bắt đầu rung trong hộp kim loại. Khi tín hiệu đến đầu kia lò xo, nó chuyển đổi trở lại thành âm thanh, nhưng năng lượng từ tín hiệu vẫn vào lò xo và vẫn tiếp tục dao động cho đến khi nó tắt hẳn, điều này gây ra hiệu ứng reverb. Reverb plate xử dụng cùng một nguyên tắc này, ngoại trừ với tấm kim loại hơn là lò xo, và chuyển đổi đặt trên đĩa, thay vì ở hai đầu lò xo, và hiện nay, được mô phỏng lại trong thiết bị digital.

Cổng (Gated)

Reverb gated nghĩa đen là một reverb gate. Reverbs gatedâm vang cường độ cao trong thời gian ngắn, và, thay vì tắt từ từ, gate đi vào và chỉ tắt reverb. Điều này rất phổ biến trên trống snare trong thập niên1980, do đó, kỹ thuật này ngày càng ít người xử dụng. Nhưng trong tình huống đúng (như với tất cả mọi cái), nó có thể âm thanh tuyệt vời. Cá nhân tôi khá thích reverbs gated, đặc biệt là nếu bạn có trống snare thứ hai có cao độ cao hơn trống snare chính. cũng có thể tạo âm thanh tuyệt vời cho vocal và guitar, nhưng thay vì xử dụng chương trình reverb gated, bạn có thể tạo ra verb của riêng bạn, đặt gate trên verb return (trở lại), và sau đó sidechain nhạc cụ vào gate. Bằng cách này, gate chỉ mở ra khi đang dùng guitar hay vocal.

Chậm trễ (delay)

Hiệu ứng khác thường được xử dụng là thiết bị delay, tạo ra tiếng vang rời rạc. Đôi khi nó được viết tắt là DDL (digital delay line), nhưng hầu hết tên thiết bị được viết trên mixer.

Delay khá dễ hiểu: bạn cho một tín hiệu vào thiết bị delay, nó giữ tín hiệu chậm lại một chút, rồi nó sẽ gửi chính nó trở lại. Không giống như reverb, bạn đang nhận sự lập lại nhiều lần làm tăng mật độ trên thời gian, bạn chỉ nhận được cùng một tín hiệu lập đi lập lại (repeat) nhiều lần nữa cho đến cuối cùng mất hẳn đi.

Những âm thanh cho ra là tiếng vang (echo). Delay hay repeat không phải là âm thanh, nhưng cả hai thuật ngữ này được xử dụng rộng rãi khi đề cập đến những âm thanh thật tế, đi kèm với thiết bị delay.

THI GIAN TRỄ (DELAY TIME)

Delay time là khoảng thời gian giữa những âm thanh trực tiếp và âm lập lại đầu tiên của từ thiết bị delay. Đây cũng là khoảng thời gian giữa nhiều tiếng vang (echo). Bạn có thể thiết lập delay bao lâu cũng được, và nó được đo bằng số nhịp mỗi phút (BPM) hay mili giây.

Hầu hết thiết bị delayvài dạng nút bấm trên nó, cho phép bạn nhấn nhẹ theo âm nhạc và được một delay time phù hợp với tiến độ của bài hát. Thủ thuật ở đây là delay âm thanh thú vị hơn một chút, bằng cách tăng tốc và làm chậm nó lại cho mỗi phần bài hát, thay đổi repeat.

Hãy nhớ rằng: Bạn làm theo ý mình không có nghĩa cần phải xử dụng nó. Hãy suy nghĩ về bài hát, nghệ sĩ, và phong cách âm nhạc của họ trước khi điên đầu với nó. Và nếu bạn có ban nhạc đang chơi để nhấn nhịp, rồi bạn có thể không muốn đặt delay time chính xác nữa, nếu không âm nhạc có thể cảm thấy rất khuôn phép (regimented) và không trôi chảy tự nhiên.

PHẢN HỒI (FEEDBACK)

Cài đặt feedback để kiểm soát số lần lập lại. Nó hoạt động giống như một vòng lập (loop) feedback trong một mạch âm thanh, nhưng thay cho ra tiếng the thé (squeak) hay ầm ầm (rumble), nó lấy output delay này và đưa trở lại vào chính nó, cho bạn càng nhiều sự lập lại nếu bạn yêu cầu. Khi không áp dụng feedback vào tín hiệu delay, bạn chỉ nhận được một lần lập lại.

SỐ LẦN LP LI (NUMBER OF REPEATS)

Vài thiết bị delay có một số chức năng lập lại. Giống như feedback ở trên, điều này cho phép bạn kiểm soát số lần lập lại để nó nhỏ dần rồi tắt. Điều này cho bạn kiểm soát sự lập lại nhiều hơn với feedback và trong hầu hết trường hợp đè lên chức năng feedback. Bạn có thể làm tiếng lập lại với feedback 95%, nhưng thiết bị delay sẽ vẫn chỉ lập lại hai lần.

LỌC (FILTERS)

Cũng như thiết bị reverb, vài thiết bị delayfilter. Chức năng này có thể thật sự tiện dụng khi bạn muốn mô phỏng tiếng echo slapback chạy bằng băng từ, có độ giảm mức cao sau mỗi lần lập lại.

SLAPBACK DELAY

Slapback delay rất phổ biến. Nó rất giống echo, nhưng lập lại hơi dài (khoảng 120 mili giây giữa những lần lập lại), do đó âm thanh định rõ hơn. Slap echo lần đầu tiên được xử dụng vào năm 1950 cho những bài hát rock.

HIỆU ỨNG ĐIU CH VÀ LFO (MODULATION EFFECTS AND LFO)

Hiệu ứng mudulation bất kỳ hiệu ứng nào thay đổi âm thanh trực tiếp. Không giống như reverb hay delay, âm thanh trực tiếp vẫn như cũ, bạn chỉ cần thêm vào nó, hiệu ứng modulation xử dụng delay để thay đổi cao độ của âm thanh trực tiếp. Một số hiệu ứng modulation xử dụng một thiết bị gọi là LFO (dao động tần số thấp- low-frequency oscillator), cho ra tần số rất thấp không thể nghe được (và do đó có thể thật sự chỉ được xử dụng cho hiệu ứng modulation). LFO điển hình thường áp dụng delay biến thiên chậm, thay đổi cao độ và tạo ra tiếng đồng ca (chorusing) khi âm thanh trực tiếp kết hợp với delay bản sao của nó.

Hiệu ứng modulation xử dụng khá nhiều khi mix trong phòng thu, nhưng trong live show thì ít hơn rất nhiều. Nếu không xử dụng chính xác, có thể làm mix bị đục, nhưng khi xử dụng chính xác, trên đúng loại nhạc cụ, có thể mang lại sự ấm áp, sắc thái, và biến thể cho mix. Tiếp theo chúng ta sẽ xem xét vài loại hiệu ứng modulation.

DỊCH CHUYỂN CAO ĐỘ (PITCH SHIFT)

Trước hết, hãy xem xét bộ dịch chuyển cao độ (pitch shifter), có thể giải thích đơn giản nhất, xử dụng để làm dày vocal yếu lên hay bổ sung thêm vài tính độc đáo cho vocal. Một thí dụ là thiết lập tinh chỉnh (fine-tune), đó là sự khác biệt nhỏ về tần số giữa mỗi nốt nhạc thay vì di chuyển cao độ toàn bộ nốt lên hay xuống: Tôi chỉ muốn làm cho âm thanh dày lên một chút, và những nốt quá gần nhau bắt đầu tương tác giữa và tạo ra hiệu ứng líu lo (warbling). Với La Roux, tôi xử dụng +4 ở bên trái và delay 14 mili giây; bên phải tôi xử dụng -14 và delay 4 mili giây. Khi kết hợp với vocal, cho nó âm thanh rất độc đáo và vocal chìm vào âm nhạc trong khi vẫn giữ đủ lớn để nghe được.

CHORUS (ĐỒNG CA)

Hiệu ứng chorus thường có delay time thay đổi từ 15 đến 40 mili giây. Delay time gây ra sự thay đổi cao độ trong âm thanh đến và do đó nó làm cho âm thanh nghe như hợp xướng. Bạn có thể thay đổi cường độ, đôi khi được gọi là modulation, và cũng là tỷ lệ, là tần số hay tốc độ thay đổi cao độ.

Vì bản chất của hiệu ứng chorus trong việc tạo ra mô phỏng dàn hợp xướng cho nhạc cụ, nó hoạt động thật sự tốt trên vocal, guitar, và keyboard. Hiệu quả có thể thêm sự phong phú, đầy đặn, âm thanh biến động. Nó tạo âm thanh tốt trên những nốt nhạc ngân dài.

Flanger

Trong flanger, âm thanh trực tiếp kết hợp với chính nó bị delay ít hơn 20 mili giây, tạo ra một bộ lọc lược (comb filter). Delay liên tục thay đổi tỷ lệ cài trên LFO. Delay thay đổi từ 0 đến 20 mili giây. Không giống như hiệu ứng chorus, tín hiệu được đưa trở lại trên chính nó. Các biến thể trong delay gây ra những khía comb-filter làm tần số di chuyển lên xuống, tạo ra hiệu ứng sâu rộng và cho biết thêm vài sắc thái và biến đổi tín hiệu thật thú vị. Nó tạo phần nào của hiệu ứng dưới nước, Spacey.

Tôi thường xuyên xử dụng hiệu ứng này trên vocal của ban nhạc rock có note vocal dài; làm dày tiếng vocal lên một chút, và nó làm cho line vocal nhàm chán sống lên. Nó hoạt động tốt trên guitar và keyboard.

Hiệu ứng dựa trên máy tính (Computer-Based Effect)

Hệ thống xử lý dựa trên máy tính có thể mang lại tính linh hoạt nhiều hơn cho live show. Ngoài ra, vì chúng quá nhỏ và nhẹ, bạn có thể mang nó đến bất cứ nơi nào, không có nhiều rack lớn nặng phải khiêng qua khu vực lầy lội để đến FOH của lễ hội. Một lợi thế lớn khác của hệ thống xử lý máy tính là bạn có thể load cùng một setup chính xác cho ban nhạc được xử dụng để thu âm album của họ, do đó, bạn đang tiến một bước nữa để tái tạo album live.

Hệ thống riêng dựa trên máy tính của tôi bao gồm bộ điều khiển midi nhiều fader, một card sound, máy Mac. Tôi chạy chương trình gọi là MainStage, trong đó lưu trữ tất cả hiệu ứng cần thiết cho show. Điều khiển Midi kiểm soát tất cả fader ảo, và cũng có chương trình midi thay đổi bằng nút nhanh ngay trên đầu thiết bị, vì vậy tôi có thể thay đổi hiệu ứng cho nhiều bài hát khác nhau bằng cách chỉ nhấn một nút. Vì bộ điều khiển có thể xách tay, nó có thể đặt cạnh tôi trên mixer để truy cập dễ dàng.

Bất lợi lớn duy nhất của việc xử dụng hệ thống này là độ trễ gây ra bởi máy tính. Giảm kích thước bộ đệm (buffer) trong máy tính có thể giúp phần nào, nhưng trong phòng chết (phòng không có phản dội âm thanh), bạn vẫn có thể nghe bị delay một chút.

Vọc hiệu ứng

Ý tưởng tuyệt vời mầy mò vọc những hiệu ứng để hiểu làm được gì đáp ứng với tín hiệu input khác nhau ra sao. Thí dụ, đưa delay trở lại vào chính nó có thể cho bạn một loại delay sao chép (dub), khi tín hiệu bắt đầu decay thành tiếng noise. (Bạn phải cẩn thận với điều này, mặc dù: Gửi tín hiệu trở lại vào chính nó quá nhiều sẽ làm cho đầu của bạn dễ phát nổ, cùng với nhiều channel khác nhau xịt khói, phun ra từ thiết bị).

Ghi nhớ: Bạn không bị hạn chế về tiêu chuẩn của hiệu ứng. Có nhiều kết hợp có thể xử dụng, và có thể áp dụng trong nhiều cách khác nhau. Thậm chí bạn có thể khám phá vài thương hiệu mới cho riêng mình.

---------------------Hết chương 09------------------

 

 

 

Add comment


GIÁO TRÌNH

CATALOG SCAN

Ai đang truy cập

We have 89 guests online
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay578
mod_vvisit_counterHôm qua909

Comment mới nhất

  • tanngoclighting 17.10.2014 00:33
    Ngoài ra, tuỳ thuộc theo từng hãng sản ...

    Read more...

     
  • tanngoclighting 17.10.2014 00:26
    Sorry Khi đọc về cấu tạo đèn Fresnel (hình ...

    Read more...

     
  • tanngoclighting 17.10.2014 00:14  
  • huonggiangcbe 11.10.2014 19:20
    Cháu đã gửi mail đăng ký một quyển ...

    Read more...

     
  • huonggiangcbe 24.08.2014 17:51
    e muon mua mot quyen GIAO TRINH AM THANH ...

    Read more...